Thứ Hai, 14 tháng 10, 2019

không cố tạo ra cái gì hay hạn chế

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.

♡ - Thiền Sư SAYADAW U TEJANIYA .

[ Chào đón mỗi khoảnh khắc với chánh niệm + trí tuệ ]

PHÁP Ở MỌI NƠI .
---------♡♡♡--------
TINH YẾU
THIỀN CHÁNH NIỆM .
----------------------------------
Tâm thiền phải thư giãn một cách tự nhiên , tĩnh lặng và bình an . Hãy học cách không tập trung , không kiểm soát , không cố tạo ra cái gì hay hạn chế , gò bó cái gì cả .
Tại sao ta phải tập trung nhiều như vậy ? Có thể bạn đang mong muốn có được một kinh nghiệm nào đó hay không thích một cái gì đó đang diễn ra .

• Không tạo ra hay chối bỏ cái gì , và cũng không quên chánh niệm mỗi khi cái gì đó sanh khởi hoặc diệt đi .

• Tâm đang ở đâu ? Nó có chú ý đến những gì đang diễn ra trong thân và tâm không ? Hay là đang chú ý đến bên ngoài hay người nào đó ?

• Tâm là tâm thiền khi nó không có tham , sân , đau khổ hay bất an trong đó . Khi thực hành với tham muốn hay mong cầu , chờ đợi , thì bạn chỉ tự làm cho mình mệt mỏi mà thôi .
• Cố gắng tạo ra một cái gì đó là tâm tham đang làm việc . Chối bỏ một cái gì đó là tâm sân đang làm việc . Không hay biết có cái gì sanh lên hay diệt đi là tâm si đang làm việc .
Không mong đợi điều gì sẽ đến , không mong muốn điều gì , không bất an , bởi vì khi có những thái độ này trong tâm sẽ rất khó hành thiền .
• Thường xuyên kiểm tra lại thái độ hành thiền .
Khi chúng ta tham muốn một cái gì được là tốt và chống đối lại cái gì bị cho là xấu thì có còn là hành thiền nữa không ?
• Khi chúng ta cố gắng tạo ra một kinh nghiệm mình đang muốn thì có là thực hành đúng hay không ? Chúng ta chỉ cố gắng hay biết và quan sát những gì đang diễn ra như nó đang là .
Nếu tâm thấy mệt mỏi hay khổ sở , nhất định có điều gì đó mất cân bằng hoặc thiếu sót trong pháp hành . Khi tâm cảm thấy căng thẳng và tù túng sẽ rất khó hành thiền . Hãy kiểm tra lại xem mình đang thực hành như thế nào khi bạn thấy thân và tâm mình mệt mỏi . Tâm có thái độ đúng không ?
• Tâm thiền phải thư giãn và bình an . Bạn chỉ có thể hành thiền được bới tâm nhẹ nhàng và giải phóng .
• Tâm đang làm gì ? Nó đang làm công việc gì ? Nó có bị cuốn theo suy nghĩ không ? Nó có đang hay biết không ?
• Đừng cố tìm lỗi của tâm suy nghĩ -- đừng cố gắng ngăn chặn suy nghĩ . Thay vào đó , bạn chánh niệm để nhận biết suy nghĩ mỗi khi nó khởi sanh .
• Tâm thiền hay tâm chánh niệm , chỉ hay biết một cách hời hợt hay biết một cách sâu sắc và cặn kẽ ?
• Chúng ta không cố gắng loại bỏ đối tượng của tâm ( đề mục ) . Tuy nhiên , chúng ta muốn hiểu những phiền não sanh khởi liên quan đến đối tượng và quán xét , tìm hiểu những phiền não đó .
Đề mục không thực sự quan trọng . Tâm quan sát làm việc ở đằng sau mới thực sự quan trọng . Nếu tâm quan sát có thái độ đúng , thì bất cứ đề mục nào cũng là đề mục đúng .
• Chỉ khi có đức tin ( saddhà ) , tinh tấn ( viriya ) mới phát khởi . Chỉ khi có tinh tấn , chánh niệm ( sati ) mới liên tục . Chỉ khi chánh niệm liên tục , tâm mới ổn định và vững vàng ( samãdhi - định ) . Với tâm ổn định và vững vàng , bạn sẽ hiểu mọi thứ như nó đang là ( paññà - tuệ ) . Khi bạn thấy được thực tại như nó đang là , đức tin sẽ càng tăng trưởng .
• Hãy chánh niệm trong hiện tại -- đừng hồi tưởng lại quá khứ hay ước vọng tương lai .
-------------•••••♧♧♡♡♡♧♧•••••------------
[ Trích từ :PHÁP Ở MỌI NƠI ]

Hãy từ bi với chính cuộc đời mình
Ngậm ngùi bởi tiếc nuối tuổi trẻ đã trôi qua lúc nào không hay. Ngậm ngùi phải chi hồi đó thế này thế khác. Hình như ta chẳng bao giờ thực sống lúc
còn trẻ ta mơ ước tương lai sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi khi đã có được cái này cái nọ cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ. Nhỏ mong cho mau lớn lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú tóm lại ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.
Từ ngày thế giới phẳng ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn nhưng chuyện trò với một người nào khác cười đùa nhăn nhó giận dữ âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện thì nhiều khi đã lỡ nhịp. Hiểu ra những điều tầm thường đó tôi biết quý thời gian hơn quý phút giây hiện tại ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa. Hiện tại thì không có già không có trẻ không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên không phải trốn chạy già mà hiểu nó chấp nhận nó thưởng thức nó. Khi biết enjoy nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.
Một người 60 tiếc mãi tuổi 45 của mình thì khi 75 họ sẽ tiếc mãi tuổi 60 rồi khi 80 họ sẽ càng tiếc 75 Vậy sao ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi sao cứ phải nguyền rủa bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không ? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa.
Ta cũng có thể gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này bơm chỗ nọ lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi loãng xương vẫn cứ loãng xương tim mạch vẫn cứ tim mạch. Cơ thể ta cứ tiến triển theo một lộ trình đã được vạch sãn của nó không cần biết có ta. Mà hình như càng nguyền rủa càng bất mãn với nó càng làm dữ. Trái lại nếu biết thương yêu nó chiều chuộng nó một chút biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp làm cho mạch máu nó thông thoáng làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn.
Anh chàng Alexis Zorba nói: Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Cho nó nghỉ với. Đó là con lừa kéo xe của ta nếu không cho nó ăn nó nghỉ nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi
Từ ngày biết thương con lừa của mình hơn tử tế với nó hơn thì có vẻ tiểu cũng khác xưa biết cho con lừa của mình ăn khi đói không ép nó ăn lúc đang no không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn chay mặn gì cũng tốt. Cá khô
mắm ruốc gì cũng được tiểu thích ăn cá khô lắm thích ăn nhạt gia vị nữa miễn là đừng nhiều muối quá. Một người bạn tiểu mắc bệnh ăn không đượcăn không biết ngon vậy mà vẫn béo phì đi không nổi là bởi vì các con thương bà quá mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống. Sữa giàu năng lượng nhiều chất béo bổ quá làm sao còn có thể ăn ngon làm sao không béo phì cho được?
Giá nghèo một chút còn hay hơn. Cá kho quẹt rau muống mà tốt miễn bà ăn thấy ngon thấy sướng.
Tiểu cũng biết cho con lừa của mình ngủ hơn. Ngủ đầy giấc đủ giấc thiếu ngủ mua quả bí to vật vã đun nước uống thuốc ngủ tự nhiên.
Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được.
Bảy trăm năm trước Trần Nhân Tông viết:
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên( Đói đến thì ăn mệt ngủ liền! ) trong bài
Cư trần lạc đạo ( ở đời mà vui đạo)
Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con lên tu ở núi Yên Tử Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi ra tay dẹp giặc xong phủi tay lên núi tu tiếp
Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình không ai giống ai như vân tay vậy cho nên không cần bắt chước chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo nắm lấy nguyên tắc chung thôi rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình tính cách mình sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác.
Cũng nhớ rằng tới tuổi nào đó tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy mắt bắt đầu kém tinh đấu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi. Tuy vậy tai kém mà muốn nghe gì thì nghe không thì đóng lại mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy không thì khép lại. Thế là căn hết tiếp xúc được với trần tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm
Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già nói nôm na là xài lâu quá hết thời hạn bảo hành. Cái mà người xưa gọi là hoa đốm hư không chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời ai dè trong mắt mình. Chỉnh cái tưởng của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai nhưng cái cách cũng đã khác cái nhìn đã khác biết tôn trọng ý kiến người khác biết chấp nhận và nhìn lại mình.
Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả. Tóm lại chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Nhưng muốn vậy phải chuyển đổi cách thở. Thở ư đúng vậy một bác sĩ có thể biết rất nhiều về bộ máy hô hấp về cơ thể học sinh lý học bệnh lý học của bộ máy hô hấp nhưng chưa chắc đã biết thở.
Cực kỳ chuẩn xác thầy bói chết vì bệnh nghiệp của thiên hạ còn bác sĩ chết vì bệnh đi chữa cho thiên hạ. Còn chúng ta chết vì bệnh tham lam của chính mình
Tiểu vô sản chắp búp

Lời dạy cổ xưa: “Bạn là những gì bạn ăn.”

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.

TÌNH NHỎ LÀM SAO QUÊN || Toại Khanh
Hồi còn ở bên nhà, tôi từng nghe một ông người Bắc bảo rằng dân Nam Bộ xuề xòa vậy mà ngôn ngữ của họ có nhiều chỗ độc đáo kinh người. Như chữ Nhậu chẳng hạn. Trong khi người Bắc nói uống rượu thì đôi khi chỉ có nghĩa là cho rượu vào miệng rồi nuốt ực, tức là uống rượu suông, không có mồi màng, thức nhắm gì ráo. Rồi thì ngồi uống rượu với cả một mâm cỗ thịt thà ê hề cũng vẫn cứ là uống rượu. Tiếng Nhậu trong Nam thì không phải vậy. Chỉ có rượu thôi thì không phải Nhậu rồi. Ít gì cũng phải là một trái xoài, trái ổi để nhâm nhi, mới có chỗ để xài chữ 'nhậu'. Nghĩa là cạnh cái uống, phải có cái ăn thì mới làm nên chữ 'nhậu'. Chữ Nhậu phải hiểu vậy mới đúng, mới đã!
Rồi tới cái ngày xa xứ, tôi một túi vải lên đường với bao thứ gói ghém trong cái tâm tình viễn mộng, bao gồm vài món không dám xao lãng trong tấc dạ. Một trong những món hành trang đó dĩ nhiên có cả một thứ ngôn ngữ đã nói đến mềm môi. Giữa xứ người mênh mông, đôi lúc chỉ thèm nghe lại một câu chữ bằng tiếng ta thiệt đúng điệu cho ấm lòng. Thế thôi, vậy mà đâu phải muốn là được. Vậy rồi bỗng một ngày đang ngồi nhơi như bò mấy bài vở dễ ghét của đám người mắt xanh, da trắng, tôi chợt thấm thía một con chữ tiếng Việt bao lâu qua vẫn làm tôi xao lòng mà ít khi để ý. Đó là chữ Nhớ, thâm thúy gấp trăm lần chữ Nhậu kia nữa.
Mấy tiếng Miss, Recall, Remember, Recollect, Memories… trong Anh ngữ hình như không đủ để dịch đúng chữ Nhớ của tiếng Việt. Chẳng biết có phải tôi đã giàu tưởng tượng quá chăng?
Một đứa bé giữa đêm thức giấc không thấy có mẹ nằm bên thì khóc. Đó cũng là nhớ. Biết đi biết chạy, nó không quên chỗ cất mấy món đồ chơi, đó cũng là nhớ. Tuổi dậy thì, nó cứ bâng khuâng khi nghĩ về một người dưng bằng thứ cảm giác chưa từng có với những người thân trong nhà, đó cũng là nhớ. Phạm Thái với Quỳnh Như, Loan và Dũng, Lan và Điệp, cũng đều là nhớ. Cao xa và thiêng liêng hơn một chút, người của Lục Quốc đối với Kinh Kha sau ngày chàng bỏ mạng trên đất Tần cũng là một chữ Nhớ… Đại khái, tình nhà hay tình nước, tình bạn tri âm hay tình yêu nam nữ, cao thấu trời hay thấp tận bùn thảy đều là Nhớ hết. Chỉ một chữ đó thôi, thi ca rồi âm nhạc nối nhau ra đời suốt mấy ngàn năm qua. Đời sống của con người cũng không thể không dành cho nỗi nhớ kia một góc rộng và sâu. Tôi nghĩ hoài cũng không sao tìm ra được một hạng người, sống mà không cần đến tối thiểu một nỗi nhớ. Mấy ông vua thái tổ của các triều đại cổ kim đều lập quốc từ chữ Nhớ, người tầm thường xây dựng gia đình hay cuộc sống riêng tư cũng bằng một nỗi nhớ. Những tâm niệm đau đáu ngay ngáy của một doanh nhân trên thương trường, một nhà ngoại giao hay một chính khách trên chính trường, một tướng lãnh ngoài chiến trường, thậm chí trâu nhớ ngõ, chó nhớ đường cũng cứ là một chữ nhớ đó thôi. Chữ Nhớ đó càng thần diệu vào một ngày tôi lần đầu xem kinh Phật…
“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường duy nhất dẫn đến Niết-bàn, tức bốn Niệm Xứ này đây. Ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm diệt trừ tham ưu ở đời…”
Trời ạ, cái gọi là con đường giải thoát duy nhất ấy cũng chỉ là hành trình của một nỗi nhớ mà chữ Phạn xưa gọi là Sati, tiếng Anh bây giờ có dịch sao cũng không đúng. Hán tạng xưa giờ vẫn dịch chữ Sati đó là Niệm. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học để biện giải phân tích kiểu bác học, chỉ lấy làm tâm đắc với phép Lục Thư đã làm nên chữ đó: Một chữ Kim (今) (bây giờ) nằm trên chữ Tâm (心) thành ra chữ Niệm (念), ngụ ý Niệm là khả năng ghi nhớ mọi chuyện như là chúng đang xảy ra. Từ lâu nay trong phòng sách của tôi vẫn có một bức tranh không mấy người để ý: Tôi đã cắt dán một trái tim ghép vào bên dưới bức hình Kim Tự Tháp của Ai Cập để thỉnh thoảng tự cho mình là hành giả. Treo nỗi nhớ trước mặt mà lòng cứ quên. Quên đạo để nhớ về đời!
Như đã nói ở trên, toàn bộ những thứ làm nên cõi nhân gian vui ít buồn nhiều này chỉ là những nỗi nhớ. Chuyện đó đã đành. Nhưng có ai ngờ được là đã vào bằng nỗi nhớ thì cửa ra cũng vẫn là một nỗi nhớ khác. Một đứa bé hay một người làm cái chuyện khai sơn lập quốc, chí đến một bậc đại sĩ cầu đạo vô thượng… ai cũng đều cầm tay một chữ nhớ mà lên đường vào cuộc bể dâu…
Nỗi nhớ từ đó đã là một đất trời vạn đại cho nhất thiết pháp giới dung thân. Nó là đất sống mà cũng là cõi chết, là cơ nghiệp dựng xây mà cũng là hành trình tự hủy. Một Mỵ Châu đã vì nỗi nhớ mà chấm hết đế nghiệp của phụ vương, một Huyền Trân đã vì nỗi nhớ mà mở rộng quốc thổ cho dân tộc, một hoàng tử Tất-đạt đã nhờ một nỗi nhớ mà trở thành bậc đại giác. Nói gọn lại, anh chính là những gì anh nhớ đến trong thao thức, trở trăn!
Tất thảy những suy tư ngờ nghệch đó về nỗi nhớ, ai ngờ đã được phôi dựng từ một xúc cảm lạ lùng với bài thơ ngẫu nhiên tìm thấy và nghe được của ông Du Tử Lê: Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời!
Ông nói đúng lắm. Chỉ một nỗi nhớ thôi, nghìn kiếp còn chưa thấm tháp bõ bèn gì, nói chi là cái trăm năm ngắn ngủi của một kiếp người mù sương… Nhưng chỉ những câu chữ và ý tưởng của riêng ông thì vẫn chưa đủ để tôi chìm sâu hơn vào những nỗi nhớ. Trần Duy Đức đã một ngày đẩy nỗi nhớ đó lên một cõi thinh không xa vời mộng mị bằng những làn điệu xa vắng, khơi vơi đến mê hoặc, và cái giọng khàn khàn khó kiếm của Lê Uyên đã giúp tôi lên tới được cái ngọn nguồn thăm thẳm đó vào một đêm khuya nhìn quanh không người. Biết cảm ơn người nào trong số họ đây?
Megahut, Jan/7/09

CÔNG VIỆC SAU KHI THÀNH PHẬT CÓ PHẢI LÀ NGHĨ NGƠI, HƯỞNG PHƯỚC HAY KHÔNG?
Phật sau khi thành đạo không thể nói là không còn việc gì, mà sau khi thành đạo, một sự việc to lớn duy nhất chính là phải thực hiện nguyện đã phát ra ở trong nhân địa, phải thực hiện viên mãn, không thể nói rồi mà không làm. Trong nhân địa đã phát ra nguyện gì? “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, cho nên sau khi thành Phật chỉ có một sự việc là đi độ chúng sanh. Ý nghĩa của ba chữ “độ chúng sanh” này chính là thương yêu chúng sanh, quan tâm chúng sanh, thương xót chúng sanh, toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh, đó chính là ý của chữ độ. Sau khi thành Phật thì chuyên môn làm việc này, đúng như trên Kinh đã nói: “Ngàn nơi mong cầu ngàn nơi đến”. Nơi nào chúng sanh có cảm, Phật liền nhất định hiện thân. Chúng sanh có cảm quá nhiều, cảm chính là mong cầu, cầu Phật Bồ Tát bảo hộ, cầu Phật Bồ Tát gia trì. Ý niệm mong cầu này chính là cảm. Chỉ cần có cầu thì Phật liền có ứng. Chúng sanh cầu Phật thì có hai loại cầu, có cái cầu rõ ràng gọi là hiển cầu; có cái cầu âm thầm. Cầu âm thầm là chính mình thật có ý niệm mong cầu nhưng chính mình không phát hiện ra. Có thể thấy được ý niệm này dường như rất là vi tế, chính mình không phát hiện ra. Một ý niệm vi tế như vậy chính mình không biết, thế nhưng cảm ứng của Phật rất linh mẫn, các Ngài đã cảm ứng đến, các Ngài đã quan sát đến. Khi quan sát đến thì Phật nhất định có ứng.
Ứng của Phật cũng có hai loại, có hiển ứng, có minh ứng. Minh ứng thì bạn không thể cảm giác được, Phật đích thực đang ở chung quanh bạn, ở bên cạnh bạn giúp đỡ bạn, nhưng chính bạn không hề cảm giác được. Hiển ứng là để chúng ta cảm nhận được, hoặc giả bạn nhìn thấy được hình tượng của Phật Bồ Tát, hoặc giả bạn nghe được âm thanh của Phật Bồ Tát. Như chúng ta xem thấy ở trên “Kinh Địa Tạng”, Bà La Môn nữ cúng dường đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, nghe được âm thanh của Phật, đó là hiển ứng rõ ràng. Cô có thể nói chuyện với Phật, tuy là Phật không hiện thân, không nhìn thấy thân tướng, thế nhưng nghe được âm thanh. Cho nên, cảm và ứng đều có minh - hiển khác nhau, có minh cảm - hiển ứng, minh cảm - minh ứng; có hiển cảm - hiển ứng, hiển cảm - minh ứng. Cảm ứng đạo giao có bốn loại khác nhau. Chúng sanh thế gian chúng ta căn tánh chín muồi, đó là minh cảm, không phải là hiển cảm.
Vào ba ngàn năm trước, chúng sanh thế gian này căn tánh chín muồi, cảm động Thích Ca Mâu Ni Phật ứng hóa đến thế gian của chúng ta. Phật là hiển ứng, ứng hóa rõ ràng. Phật xuất hiện ở thế gian này không có người quen biết, không có người thỉnh pháp. Nếu không người thỉnh pháp thì Phật phải nhập diệt, phải vào Bát Niết Bàn, Ngài ở thế gian này không có việc gì làm. Phàm phu chúng ta ngu si không biết Thế Tôn thành Phật, không biết có Phật xuất thế, may mà người Trời Tịnh Cư biết được (người Trời Tịnh Cư chính là ngũ bất hoàn thiên trong đệ tứ thiền, trong tầng trời thứ năm này đều là người tu hành, không phải là phàm phu, trong Kinh điển nói là “thánh nhân Tam quả trở lên”). Nơi đó là đạo tràng lớn, họ nhìn thấy được Phật xuất hiện ở thế gian này, vội vàng đi xuống thay mọi người chúng ta khải thỉnh, thỉnh pháp, thế là Thế Tôn tiếp nhận lễ thỉnh của chúng sanh, nên mới bắt đầu vì mọi người giảng Kinh nói pháp, triển khai sự nghiệp giáo hóa chúng sanh của Ngài. Sự nghiệp này dùng lời hiện đại mà nói là “công tác giáo dục xã hội”, Ngài triển khai công tác giáo dục xã hội của Ngài.
A DI Đà Phật
HT. Tịnh không

DINH DƯỠNG VI TẾ.
Đây là những chia sẻ tâm huyết, các bạn lưu lại đọc kỹ. Khái niệm dinh dưỡng ở đây hiểu theo nghĩa rộng.
“Bạn là những gì bạn ăn” là thành ngữ phổ biến ở nhiều dân tộc, về tâm linh, đó là sự thật và mang ý nghĩa rất sâu sắc.
📎ĐIỀU THỨ NHẤT, mọi tồn tại tác động vào chúng ta đều có ba thuộc tính tùy thuộc tần số của chúng:
* Rung động Sattva – hòa thanh tráng kiện
* Rung động Tamas – nặng trược
* Rung động Rajas – kích động
Ba yếu tố này, trong không gian, khí quyển, thực phẩm, đồ uống, quần áo, thuốc… là những kiến thức vi tế nhất về dinh dưỡng mà tới nay loài người biết. Ba yếu tố không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà cả tinh thần. Tất cả những ai muốn dấn thân vào thực hành tâm linh hay trở thành người dẫn kênh đều phải nhuần nhuyễn các kiến thức này, nếu không hiểu thì không chống lại được các cuộc tấn công năng lượng tiêu cực từ khí quyển cũng như không hấp thụ các rung động tích cực vẫn rót xuống liên tục từ các cõi thanh nhẹ hơn.
📎ĐIỀU THỨ HAI, hệ thống luân xa của chúng ta được xếp làm 2 nhóm:
* Nhóm các luân xa trên, số 4,5,6,7 và vùng trống, đáp ứng chủ yếu hoạt động trí tuệ.
* Nhóm các luân xa dưới, số 1,2,3 đáp ứng chủ yếu cho chiều kích thế gian.
Ba yếu tố tác động tới hoạt động của các luân xa trên và các luân xa dưới khác nhau.
📎ĐIỀU THỨ BA, ba yếu tố tác động vào cá thể hạnh phúc, cá thể đau khổ, cá thể ù lỳ khác nhau chứ không đồng đều. Tức là, cùng một loại thức ăn, cùng một bước sóng, cùng một môi trường, cùng một bộ quần áo… thì người hạnh phúc hấp thu và chuyển hóa khác với người đau khổ. Bởi vậy chớ dại bắt chước người khác mà không suy nghĩ.
Nếu cá thể hạnh phúc thì thành phần Tamas duy trì trong một thời gian ngắn còn Sattva được duy trì trong khoảng thời gian dài hơn. Một cá nhân như vậy dễ thanh tẩy Tamas và bảo toàn Sattva.
Lưu ý, hạnh phúc và đau khổ đề cập ở đây là trạng thái nội tâm chứ không theo các tiêu chuẩn thế gian kiểu như phúc-lộc-thọ-khang-ninh.
Quá trình thay tẩy Tamas nhanh hay chậm phụ thuộc vào cá thể hạnh phúc hay đang đau khổ tức là phụ thuộc vào nghiệp.
📎ĐIỀU THỨ TƯ, thói quen kiểm soát cảm xúc và tâm trí cùng các thực hành tâm linh rốt ráo thuận nhân quả đem lại lợi ích to lớn, có tác dụng như một sự đề kháng chống độc tự động rất vi tế. Khi cá thể đạt được mức 6/10 nội hàm tâm linh của con đường tu tập thì tất cả các yếu tố đều ít ảnh hưởng hơn, nghĩa là chúng ta chống lại được rung động tiêu cực nhiều hơn, chúng ta ít bị ô nhiễm hơn. Điều này giải thích một thực tế rất khó hiểu trước mắt mọi người là, tại sao một số hành giả cao cấp khi hết kỳ nhập thất lại không giữ chay nghiêm ngặt mà tùy duyên thọ thực do thí chủ bố thí, hay họ hóa độ cả ở những nơi ô trược đầy rung động Tamas và Rajas như bãi tha ma, nhà thổ, lò sát sinh, ngục, nhà thương điên… [những địa điểm mà hành giả mới nhập môn được răn là phải tránh xa], hay họ có thể đi một mình trong đêm từ 12 giờ tới 2 giờ sáng là khoảng thời gian Tamas nặng nhất.
📎ĐIỀU THỨ NĂM, về mặt thực phẩm, ở đây tôi chưa đề cập tới áo quần, khí quyển…, chỉ có rung động Sattva – hòa thanh tráng kiện từ thức ăn chay mới kích hoạt chức năng Chetana – tức “ý thức thần thánh chi phối tâm trí”, kết quả là, rung động hòa thanh tráng kiện lan nhanh khắp cơ thể, lợi ích bất khả tư nghị. Trường chay 7 năm thì cơ thể đạt tới trạng thái tự báo, tự thanh lọc thực phẩm ô trược.
4 luân xa trên nhạy cảm hơn 3 luân xa dưới trong việc đáp ứng với ba yếu tố, chúng tự kích hoạt để khử tác động của tần số Tamas nặng trược khi ăn thịt dẫn tới sự mất năng lượng ròng của các luân xa trên. Bất kỳ ai hành thiền đều đặn đều biết rõ rằng, nếu bữa tối có thịt thì đêm thiền không hiệu quả, đó là do 4 luân xa trên đang mất năng lượng để thanh lọc yếu tố Tamas và Rajas. Nếu ăn thịt kéo dài, các luân xa trên cũng như dưới trở nên ù lỳ. Cần chú ý rằng, con người vốn không được Thiên tạo thiết kế để ăn thịt, chúng ta không thể ăn thịt mà không tẩm ướp rất nhiều gia vị, muối mắm, như vậy thịt Tamas luôn đi kèm Rajas – một tác động tiêu cực đúp.
📎CẢNH BÁO, một số người thiếu kinh nghiệm, khi thấy 4 luân xa trên gia tăng hoạt động lại tưởng là luân xa quay mạnh nhưng thực ra là nó bị kích thích do hấp thụ tần số Tamas nặng trược từ việc ăn thịt, sự gia tăng hoạt động lúc này chỉ nhằm tẩy trược.
Khi các luân xa trên tăng cường tẩy trược thì các luân xa dưới đình trệ, điều này không khó hiểu, cùng một mức năng lượng, ví dụ nôm na là khả năng tài chính, một tháng lương bạn mua thứ này thì phải giảm mua thứ khác.
Sau đó, khi thành phần Tamas nặng trược trong cơ thể bị phá hủy, bốn luân xa trên cố gắng lấy lại Sattva đã bị suy giảm đi trong ‘trận chiến’, bạn rất cần bổ sung sinh tố rau củ quả tươi và một số yếu tố khác mà trong khuôn khổ bài này tôi chưa thể đề cập. Sau khi trẻ chạy chơi, tắm nắng hay bơi lội hoặc người lớn tập thể thao, tuyệt đối không uống nước đường mà dùng sinh tố hỗn hợp rau củ quả để Sattva được hấp thu triệt để, giúp cơ thể thanh lọc Tamas. Khi bị nhiễm độc bởi thuốc, ví dụ như corticosteroid cũng áp dụng thanh lọc.
Khi ăn chay, tần số Sattva cải thiện hoạt động của bốn luân xa trên dù người ăn đau khổ hay hạnh phúc. Ở những người tập yoga, dù hạnh phúc hay đau khổ thì 2 luân xa dưới được cải thiện khi họ chuyển sang ăn chay. Thức ăn chay có lợi hơn cho hoạt động tối ưu của cơ thể, cảm xúc và tâm trí. Nếu chưa ăn chay được, chúng ta phải cố gắng giảm tiêu thụ thịt và tăng lượng thực vật tươi sống. Bạn đã bao giờ thấy ai thanh tẩy tiêu độc bằng thịt cá chưa, tất cả đều bằng thực vật, chỉ có thực vật.
Từ hàng ngàn năm trước, tôn giáo đã giảng dạy về những điều này rất chi tiết, ngày nay, khoa học thực nghiệm đã đo được các thông số cụ thể trên hệ thống luân xa Kundalini nhờ máy quét Electrosomatographic với sự trợ giúp của máy phản hồi sinh học DDFAO.
Lời dạy cổ xưa: “Bạn là những gì bạn ăn.”

phước nè, phước nè, mại dzô

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.

ĐÔNG Y CHỨNG MINH TÌNH DỤC GÂY HẠI

Đông y và Tây y quan niệm khác nhau. Tây y thì cho rằng tình dục không có hại trong khi cổ nhân đã khuyên dạy: “Một người nam bình thường quan hệ lúc 30 tuổi 8 ngày/ lần, lúc 40 tuổi 16 ngày/ lần, lúc 50 tuổi thì 20 ngày/ lần, lúc 60 tuổi thì phải bế tinh cấm dục. Đối với người sức khỏe yếu thì càng phải thanh tịnh thân tâm mình”. Còn xã hội hiện nay không phải 8 ngày/ lần mà là 8 lần/ ngày. Họ làm cho cơ thể này tổn thương đến mức không thể tổn thương hơn nữa.

Trong lâm sàn tôi đã gặp rất nhiều trường hợp mới 30 tuổi nhưng lại có mạch tượng của người 60 tuổi, lão hóa sớm. Chúng ta nên biết Đông y đã có nguồn gốc từ xa xưa cách đây hơn 5.000 năm, đã được kiểm chứng bởi thời gian. Còn đối với Tây y thì rất cạn cợt. Tôi lấy ví dụ như khi trẻ bị Amidan thì Tây y sẽ đề nghị cắt đi, nhưng về sau họ lại nghiên cứu ra rằng Amidan có công năng miễn dịch. Kiến thức y học phương tây thì cập nhật lúc này lúc khác. Thứ hai, có những quốc gia trẻ em khi mới ra đời họ đều cho cắt bỏ ruột thừa đi, nhưng y học hiện đại lại nghiên cứu ra rằng ruột thừa hữu ích vì ruột thừa là nơi có rất nhiều tế bào liêm phô trưởng thành. Sức miễn dịch của nó rất có ích trong việc tăng cường sức miễn dịch. Thử hỏi lứa trẻ em bị cắt bỏ ruột thừa 20 năm trước ai sẽ chịu trách nhiệm? Ở những ví dụ này ta thấy Tây y đi trên những con đường mò mẫm, chấp vá là tình trạng dò đường để qua sông.
Tây y như một thanh thiếu niên loạng choạng, chấp vá muốn kéo bạn lại để truyền kinh nghiệm sống. Đông y thì 5.000 năm nay không hề thay đổi đã chứng minh đạo lý mà đã được khảo nghiệm bởi con người và thời gian. Trong cuốn Hoàng Đế Nội Kinh đã nói con người không nên bị mê mờ bởi những thứ dục vọng và sắc dục từ bên ngoài. Nội tâm không nên để những thứ tà dâm này làm ô nhiễm. Do đó, họ có thể sống đến 100 tuổi mà không bị suy tàn, nhanh nhẹn và nhạy bén.

Trích "Tác Hại Nặng Nề Của Chứng Thủ Dâm"- Bác sĩ Bành Tân

NHỮNG ĐIỀU ÔM GIỮ TRONG LÒNG VÀ VƯỚNG MẮC TRONG ĐỜI, SẼ LÀM TỔN THỌ, MỜ MẮT
Y học Phật giáo khiến ta rất bất ngờ

Lợi ích của những chuyện thường nhật mà ta không nhận ra
.
.
Trong cơ thể, có hai bộ phận lưu giữ đống thức ăn khó tiêu hóa: RUỘT và MIỆNG
Hễ thức ăn khó tiêu thì trong RUỘT (Tràng) rối loạn, khó ăn, khiến ta đói mà không nuốt nổi, Khí vì thế mà nén rồi nặng nề, Tinh vì không thể hóa Khí mà ứ đọng, Thận là nơi tàng Tinh, vì thế mà nhơ bẩn. Vậy là TRÀNG (ruột) lưu thức ăn làm THẬN KHÍ SUY
Còn thức ăn mà không đi được xuống Thủy Cốc Hải (thực quản đến Vị - dạ dày), vướng lại trên miệng, sẽ khiến Can khí đi lên Mắt bị gián đoạn, mắt do đó ngày càng mờ đục, Can khí bị tắc sẽ phân rã, gây ra mùi hôi thối, Can khí tắc sẽ rơi ngược lại vào gan, khiến Đởm (mật) bế tắc, vị không xử lý Dinh khí thuận hòa nữa, càng ăn càng thấy đau mệt chán nản. Vậy là mồm chứa thức ăn làm CAN KHÍ HOẠI
Vậy làm sao để giải quyết thức ăn thừa tồn đọng trong RUỘT và MIỆNG?
Nhà Phật trong KINH TĂNG CHI BỘ, chương V, phẩm Kimbila có chép lại cách thức phi thường của Phật giáo giải quyết hai vấn đề này:
• Cháo
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của cháo. Thế nào là năm?
2. Trị đói, trừ khát, điều hòa phong, làm sạch bọng đái (hay thuyết quản) và tiêu hóa các đồ ăn sống còn lại
Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của cháo.
• Tăm Xỉa Răng
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm điều nguy hại do không dùng tăm xỉa răng. Thế nào là năm?
2. Con mắt bị ảnh hưởng, miệng hôi thúi, thần kinh vị không trong sạch, nước mật và đàm dính vào đồ ăn, ăn không thấy ngon
Này các Tỷ-kheo, có năm điều nguy hại này do không dùng tăm xỉa răng
3. Này các Tỷ-kheo, có năm điều lợi ích nhờ dùng tăm xỉa răng. Thế nào là năm?
4. Con mắt không bị ảnh hưởng, miệng không hôi thúi, thần kinh vị được trong sạch, nước mật và đàm không dính vào đồ ăn, ăn thấy ngon
Này các Tỷ-kheo, có năm điều lợi ích nhờ dùng tăm xỉa răng
.
.
Đọc KINH PHẬT, thấy thật cảm khái

Nhìn từ góc độc ĐÔNG Y, cháo loãng là ĐỊA KHÍ tinh hoa được hợp nhất với THỦY KHÍ, chính là một loại TINH KHÍ bổ sung cho THẬN, lại đi vào đường THỦY CỐC mà xuống đến ruột rồi dùng cái TINH THUẦN của mình mà đả thông ruột, thúc đẩy lại THẬN KHÍ. Đúng là kì-Dược
Cũng thế, việc xỉa răng bằng hành MỘC (tăm gỗ là MỘC đã kết tinh) chính là dùng CAN KHÍ mà đả thông chỗ chỗ CAN KHÍ bị HOẠI, bản thân việc DÙNG TĂM XỈA RĂNG, chứ không chỉ là việc mồm sạch trở lại, giúp CAN KHÍ thông suốt
Tuy nói đơn giản vậy, nhưng để thấu hiểu cách thức sử dụng những yếu tố thông dụng như CHÁO (vô vị) và TĂM (vô dụng) để làm thay việc mà VỊ không làm nổi, MIỆNG không dụng nổi, quả thật là phi thường. Trong Đông Y, Thận mà suy, Gan mà hoại, thì uống trăm nghìn thứ thuốc
Trí tuệ của nhà Phật thoạt nhìn đơn giản, thật sự to lớn
.
.
Trong đời người ta, đều có những việc tuy vô nghĩa nhưng cứ để trong LÒNG, tuy vô ích nhưng cứ giữ trong MIỆNG
Vứt đi không nổi, nói ra không xong, nhưng bảo vứt bỏ thì bất lực. Cứ thế TINH KHÍ suy tàn, CAN KHÍ suy vong, mạng thì tổn, mắt thì mờ, mà lòng dạ bất an, miệng lưỡi đắng nghét, một đời khổ sở
Cái gì không giữ nổi, thì BAO DUNG với nó mà THÔNG SUỐT như CHÁO
Cái gì không dùng nổi, thì BUÔNG BỎ nó đi mà THOẢI MÁI như TĂM
Người biết BAO DUNG và BUÔNG BỎ, thì sống THỌ mà MẮT SÁNG, nhìn 6 cõi thấy đủ CHÂN TƯỢNG
Chẳng phải là vui sướng hơn sao?
Vậy sao phải ÔM GIỮ, vậy sao phải VƯỚNG MẮC? Hả Người?
HẢ ĐỜI?
.
.
.
Nếu có bất kì vấn đề nào cần giải đáp, các bạn có thể gửi câu hỏi đến Hắc Hoa Đà theo link: http://hachoada.loivangyngoc.com/
Vào một chiều thu lá rụng kia, Ngài Xá Lợi Phất với thiên nhãn, thiên nhĩ đã nghe thấy tiếng Thiên Long Bát bộ xua đuổi và ngài nhìn thấy một người đàn bà gầy ốm tanh tưởi hôi thúi. Đó là một nữ ngạ quỷ. Bà ta nói: “Tôi là mẹ của ngài kiếp xưa, tôi khổ quá tôi tìm đến ngài mà sao bị xua đuổi.” Ngài Xá Lợi Phất can thiệp, ngài nói với các vị hộ thần “Hãy để cho bà ấy vào, bà ấy là mẹ cũ của ta năm kiếp trước.” Trong kinh Nam Tông không nhắc gì về ngài Mục Kiền Liên với chữ Hiếu mà chỉ kể chuyện vì đâu ngài Mục Kiền Liên bị chết thảm lúc cuối đời. Đó là do ngài từng xử tệ với cha mẹ trong kiếp trước. Còn chữ Hiếu trong kinh Nam Tông là kể về ngài Xá Lợi Phất. Ngài đã độ cho người mẹ kiếp trước và với người mẹ kiếp này ngài cũng làm tròn bổn phận trước khi ngài mất. Không hiểu vì lý do nào PG Bắc Tông lại làm ngược lại, đưa ngài Mục Kiền Liên lên thành đại hiếu Mục Kiền Liên và đưa ra chuyện Mục Liên Thanh Đề, không biết ở đâu ra chuyện đó.
Ngài Xá Lợi Phất sau khi gặp ngạ quỷ, ngài có hứa sẽ giúp cho bà, ngài nói ngày mai mới giúp được. Hôm sau ngài đi khất thực rồi đem bát cơm đó cúng dường cho đức Phật và chư tăng, sau đó hồi hướng công đức cho nữ ngạ quỷ kia. Người đứng ra làm phước đó là ngài - Đệ nhất trí tuệ, Tướng quân chánh pháp Xá Lợi Phất, người nhận chính là Đức Phật và toàn thể đại chúng thánh tăng, công đức này trời biển nào chứa hết. Vì vậy nữ ngạ quỷ trong vòng 3 nốt nhạc đã biến mất khỏi hành tinh và có mặt ở thiên giới.
Cho nên chúng ta hãy nhớ rằng quyến thuộc nhiều đời của chúng ta cũng như những người không quen biết cũng có thể nhận công đức phước báo của chúng ta nếu như chúng ta hồi hướng không phân biệt. Chúng ta hãy tưởng tượng rằng nếu mình là cô hồn khổ quỷ lang thang đầu đường xó chợ, đầu ghềnh cuối bãi bỗng một ngày nghe ai đó có lời hồi hướng cho vạn loại chúng sinh, cho những ai đang cần phước báu, “phước nè, phước nè, mại dzô” thì lập tức lòng hoan hỉ sanh thiên; chứ còn chỉ biết nghĩ cho Nguyễn Văn A, Trần thị Tèo mà không nghĩ đến vô lượng chúng sinh thì chúng ta đã vô tình cô phụ biết bao nhiêu bà con thân quyến nhiều đời của mình. Mai này tôi có mất đi, tôi cũng chỉ mong ở các pháp hội người ta nhớ đến tôi -- người một thời chia sẻ với bà con mỗi buổi chiều, mà bây giờ đi đâu mất. Còn tôi đi bằng nghiệp gì thì chỉ có trời mới biết. Mong là quí vị nhớ cái này mà sống đẹp hơn, trách nhiệm hơn. Toại Khanh Readers

Những bài giảng Kinh Tương Ưng, tập 5
Sư Giác Nguyên (giảng)

Đừng bắt chước ai cả

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.

THEO DÕI TÂM MÌNH ĐÃ MỆT LẮM RỒI ,TẠI SAO PHẢI MANG THÊM GÁNH NẶNG PHÁN ĐOÁN NGƯỜI KHÁC .


Thiền không tách rời khỏi cuộc sống .Mọi tình huống đều cung cấp cho chúng ta cơ hội để tu hành ,để phát triển trí huệ và lòng từ ái , Achaan chah dạy rằng tu hành đúng đắn là duy trì chánh niệm trong tất cả mọi hoàn cảnh .Chúng ta không trốn tránh thế gian ,chúng ta tập sống trong thế gian mà không nắm giữ hay bị ràng buộc .

Ngoài ra ngài nhấn mạnh rằng đức hạnh là nền tảng của đời sống tâm linh . Mặc dù xã hội hiện đại của chúng ta thờ ơ về đức hạnh ,giới hạnh phải được xem là nền tảng của việc hành thiền .Giới hạnh có nghĩa là tránh làm thương hại những chúng sanh khác với thân , khẩu , ý .Sự tôn trọng và thương yêu này khiến chúng ta sống hoà hợp với muôn loài chung quanh chúng ta .Chỉ khi nào lời nói và việc làm của chúng ta phát xuất từ tình thương ,chúng ta mới có thể an tâm và định trí .Vì thế ,bất bạo động là bước đầu tiên trên con đường tâm linh của chúng ta .

Để duy trì cuộc sống Trung Đạo , Achaan chah dạy về sự tri túc và tự lực .Đời sống dư dật gây chướng ngại cho sự phát triển trí huệ . Tri túc trong việc ăn uống ,ngủ nghỉ và nói giúp quân bình đời sống nội tâm và đồng thời phát triển khả năng tự lực . “Đừng bắt chước lối tu hành của người khác ,và cũng đừng so sánh mình với họ “

Achaan chah nhắc nhở “ Đừng để ý đến họ “ .Theo dõi tâm mình đã mệt lắm rồi ,tại sao phải mang thêm gánh nặng phán đoán người khác .Tập sử dụng hơi thở của mình và xem cuộc sống hằng ngày của bạn như am thiền của bạn ,rồi trí huệ của bạn chắc chắn sẽ phát triển .

T.S : Ajahn Chah
Dịch Giả : Minh Vi

GIỮ TÂM NHƯ NGỌC ĐẮC PHÚC BÁO, HAM MÊ TÀ DÂM TIỀN ĐỒ TIÊU TAN

Một niệm tà dâm khởi lên, Trời Đất đều thấu tỏ. Chỉ khi khống chế được những ý nghĩ tà dâm của mình, người ta mới có thể trở nên cao thượng và chính trực hơn.

Triệu Vĩnh Trinh sống vào thời Minh. Ngày nhỏ từng có cơ duyên gặp được một kỳ nhân. Ông ta nói với Vĩnh Trinh: “Cậu là người rất có thiện căn, đến năm 23 tuổi nếu đi thi Hương ắt sẽ đỗ khoa bảng. Nếu như có thể nỗ lực tu thiện thì tiền đồ sau này quả là rộng mở vô hạn”.

Nhưng tới năm 23 tuổi Triệu Vĩnh Trinh đi thi Hương lại bị rớt. Một hôm Triệu Vĩnh Trinh nằm mơ gặp được Văn Xương Đế Quân. Trong mơ Văn Xương Đế Quân quở trách: “Lần thi Hương này của nhà ngươi vốn dĩ được đứng đầu khoa bảng, nhưng vì nhà ngươi trong tâm có tà niệm, nhìn trộm thị nữ, đồng thời lấy việc trêu ghẹo con gái người ta làm thú vui cho nên bị cắt hết công danh bổng lộc”. Triệu Vĩnh Trinh nghe xong vội vàng giải thích: “Tuy tôi có ý tà dâm nhưng mà chưa từng làm điều dâm loạn với bọn họ, lẽ nào như vậy cũng tính là phạm tội để rồi bị trừng phạt như thế này sao?”.
Văn Xương Đế Quân nghe Triệu Vĩnh Trinh bao biện như vậy quở trách: “Nhà ngươi cho rằng thực sự làm việc tà dâm mới có tội sao? Phàm bất kỳ ai chỉ cần trong tâm có ý niệm tà dâm thì dù chỉ là một chút tơ tưởng cũng đủ kết thành trọng tội. Cho dù bản thân chưa thực sự làm điều đó nhưng đã có ý truy cầu đều sẽ bị trừng trị cắt hết phúc lộc. Huống hồ nhà ngươi không phân biệt nam nữ, lại còn trêu hoa ghẹo nguyệt, vỗ vai, kéo tay bọn họ để mong họ khởi niệm tình ý với nhà ngươi, khiến cho bọn họ chìm trong tình mê ý loạn mà đau khổ. Thiên thượng cũng vì đó mà cắt đi công danh phúc lộc của nhà ngươi. Nếu như từ nay nhà ngươi vẫn không chịu hối hận, cải tà quy chính thì e rằng sau này còn phải chịu tai hoạ giáng xuống nghiêm trọng hơn cả trăm lần”.
Triệu Vĩnh Trinh nghe Văn Xương Đế Quân giảng giải Thiên lý xong mới thấy hối hận vô cùng, lập tức phủ phục bái lạy, cảm giác thống khổ đến rơi lệ mà nói: “Tôi nguyện từ nay cải bỏ thói hư, mắt không nhìn nghiêng, tâm không vọng động. Nếu như trong tâm vẫn còn ý niệm tà dâm thì nguyện cam lòng để trời cao trừng phạt, nhận quả báo thân xác phân lìa”.
Văn Xương Đế Quân nhìn thấy tấm chân tình thực tâm hối cải của Triệu Vĩnh Trinh, lại phát ra lời thề độc để giữ vững ngôn hành của mình xong liền đáp: “Nhìn thấy nhà ngươi thực tâm hối cải, nếu như có thể không tái phạm, lại có thể khuyên bảo con người thế nhân chú ý ngôn hành và tạp niệm của mình không phạm phải tà dâm vọng niệm, thì sau này không những khôi phục được công danh phúc lộc mà tiền đồ còn được rộng mở vô biên”, nói xong lấy bút chỉ vào tim của Triệu Vĩnh Trinh. Triệu Vĩnh Trinh thấy vậy kinh động giật mình tỉnh dậy.
Tỉnh dậy, Triệu Vĩnh Trinh nhớ lại rất rõ giấc mơ đó, thấy bản thân mình may mắn có thiện căn gặp được Văn Xương Đế Quân giáo huấn để cải đổi sai lầm. Nếu không, Vĩnh Trinh đã mãi sống trong u mờ, sai lệch để mặc cuộc đời trôi dạt không biết về đâu!
Kể từ sau hôm đó, thời thời khắc khắc Triệu Vĩnh Trinh luôn nhắc nhở bản thân không được buông thả chính mình, nhất cử nhất niệm đều tự giáo huấn bản thân không được có bất kỳ một ý nghĩ tà dâm nào cả. Không những vậy Triệu Vĩnh Trinh còn nỗ lực hành thiện, khuyên bảo mọi người từ bỏ tà dâm.
Nhờ tu tâm sửa tính, tới năm 26 tuổi Triệu Vĩnh Trinh tiếp tục tham gia thi Hương được đỗ đầu Hương bảng, thêm động lực để Triệu Vĩnh Trinh gia tăng hành thiện tích đức, khuyên bảo mọi người sống thiện trừ tà. Tiếp đó 4 năm, thiện, đức gia tăng Triệu Vĩnh Trinh thi cử đỗ hàng Tiến sĩ sau đó lại thuận lợi làm tới chức Phong Cương Đại Thần trấn thủ một phương, con cháu đời sau nghe theo giáo huấn của cha, người người phú quý sống đời hưởng phúc.

MÙA SAO THỦY ĐI NGƯỢC CUỐI CÙNG TRONG NĂM 2019
Mùa Halloween năm nay có thể sẽ vui hơn với sao Thủy đi ngược. Dự kiến sự chuyển động của hành tinh này sẽ không gây ra nhiều khó chịu như những lần đi ngược trước đây.
Theo giờ Việt Nam, vào đầu ngày 1.11.2019 (tháng Bọ Cạp) sao Thủy sẽ bắt đầu nghịch hành tại Bọ Cạp. Đây là lần nghịch hành cuối cùng trong năm 2019. Bình thường trong mùa đi ngược của sao Thủy, những chậm trễ về liên lạc hoặc hỏng hóc đồ điện tử dễ xảy ra, không những thế nhiều người còn hay có sự nhớ nhung và muốn liên lạc với người cũ để nói chuyện cần nói (nếu trước đây chưa giải quyết xong, vẫn còn vương vấn). Vì thế nhiều người không thích mùa sao Thủy đi ngược, nhất là lần này tại Bọ Cạp – một cung chủ về cái chết/sự tái sinh biến đổi, thường mang lại cái nhìn tiêu cực, hành động cực đoan – thì càng khiến mọi người lo lắng.
Tuy vậy lần này sao Kim – hành tinh của vẻ đẹp & tính nữ - cũng di chuyển quanh khu vực của sao Thủy; sự trùng tụ của hai hành tinh này khiến mỗi người dễ bộc lộ vẻ đẹp & tình yêu của bản thân với người yêu hoặc mọi người xung quanh. Bạn có thể kết nối lại với một người bạn cũ hoặc quen người mới; cũng có khả năng nhận được tiền (quà tặng hoặc sự đầu tư của người khác) dẫn đến thành công trong công việc/kinh doanh.
Trong cùng khoảng thời gian đó, mặt trời Bọ Cạp tạo góc đối đỉnh với Thiên Vương ở Kim Ngưu, khiến lĩnh vực bị ảnh hưởng sẽ có sự thay đổi/đột phá bất ngờ. Lúc đầu sự thay đổi đó sẽ khiến bạn cảm thấy lo lắng & có xu hướng cưỡng lại, nhưng đó cũng có thể là một cơ hội để làm mọi thứ theo cách tốt hơn, vì thế hãy giữ cho tâm trí cởi mở trước những thay đổi.
Tới khoảng 20-21/11 thì sao Thủy trở lại thuận hành. Vào lúc này Thủy có góc chiếu mềm với mặt trăng ở Xử Nữ, Thổ & Diêm Vương ở Ma Kết, Hải vương ở Song Ngư, dẫn tới những cuộc nói chuyện với bạn bè hoặc đàm phán với đối tác dễ thuận lợi.
Cùng thời điểm đó, mặt trăng & sao Kim lại nhận một vài góc chiếu căng thẳng. Hãy kiểm tra lại #bản_đồ_sao_cá_nhân sẽ biết sao Thủy đi ngược gây ảnh hưởng như thế nào lên từng người vào thời gian này. #Follow_page để đọc những #bản_tin_vận_hạn & #book_lịch qua #inbox_page để tìm hiểu thêm về ảnh hưởng riêng nhé.



Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2019

Rửa ruột

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.




Trong khi quan sát tâm mình (hành thiền), hãy để cho những gì bị đè nén từ lâu trồi lên và hiện ra trong tâm, cho dù chúng có ghê tởm và đáng sợ đến đâu. Khi chúng xuất hiện lên trong tâm, hãy buông bỏ, tự khắc chúng sẽ biến mất. Đây chính là quá trình làm trong sạch hay thanh lọc tâm. Nó giống như tiến trình của việc chữa bịnh bằng cách rửa ruột vậy. Những gì tuôn ra từ ruột sẽ rất xấu xa và hôi thối, nhưng khi đã ra khỏi ruột rồi, bệnh nhân sẽ cảm thấy khỏe hơn nhiều.
Nếu sống ở đời mà không có trí tuệ, chúng ta sẽ luôn tìm cách mưu toan, vận động, lôi kéo, điều khiển và kiểm soát mọi người, thậm chí ngay cả chính bản thân của mình, để bòn mót và chắt lọc giữ lấy những gì mình thích, và chối bỏ những gì mình không thích. Và rồi, khi cuộc đời không cho phép chúng ta điều khiển và kiểm soát mọi việc theo ý muốn của mình, chúng ta sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng, và tất cả những gì mà chúng ta che đậy và dấu diếm từ trước đến nay sẽ tự phơi bày hay bị lột trần -- đó là biến cố tâm lý mà chúng ta gọi là sự khủng hoảng tinh thần hay khủng hoảng thần kinh. Tuy nhiên, nếu hành thiền, bạn sẽ vẫn trải qua những cuộc khủng hoảng tinh thần nhưng đó là những cuộc khủng hoảng mà bạn vẫn có khả năng điều khiển và làm chủ được mình. Bạn sẽ nhận ra rằng tất cả những tư tưởng và tình cảm bất thiện chỉ là những điều kiện của tâm, chúng đến rồi đi và không có tự ngã. Bạn có thể tự cởi trói cho mình bằng cách buông bỏ thay vì tìm cách kiểm soát hoặc đè nén chúng. Và qua việc làm đó, bạn khai mở và giải phóng tâm thức của mình.
Để thanh lọc tâm, chúng ta phải để cho những tư tưởng và tình cảm bị đè nén và ức chế từ lâu được trồi lên và hiện ra trong tâm một cách có ý thức. Tuy nhiên, người đời lại thường cho ý thức là cái gì thuộc về riêng mình, vì thế nên khi có sự bấn loạn hoặc phiền não xảy ra trong tâm, chúng ta thường nghĩ , "Tôi là một người đầy rối loạn và khổ sở." Nhưng khi hành thiền, chúng ta biết được rằng ý thức không phải là tự ngã, nó không phải là một người hay một cá nhân nào đó. Ý thức chỉ là một điều kiện của thế giới tự nhiên. Khi quán sát bản chất thay đổi không ngừng của ý thức, bạn sẽ biết rằng nó không phải là cái ngã, và sự thấy biết nầy chính là công cụ hay cách thức giúp bạn tháo gở và giải phóng tất cả những gì bị ức chế và đè nén trong tâm. Nó sẽ giúp những tư tưởng và tình cảm tiêu cực và bất thiện mà bạn chống ghét và đè nén xuất hiện rồi vĩnh viễn biến mất.
Bất cứ cái gì cũng có thể hiện lên trong ý thức. Nó có thể đẹp hay ghê tởm, thiện hay ác, hợp lý hay điên rồ. Nhưng trong khi hành thiền, những tính chất nầy không quan trọng. Bạn chỉ cần biết là ý thức đang thay đổi và biết là nó không có cái ngã biệt lập -- nó là vô ngã. Khi bạn hiểu và thấy được điều nầy đầy đủ và rõ ràng, bạn có thể dùng ý thức để giải phóng, buông xả, mở trói, thay vì cố ý tìm cách chọn lọc rồi dấu nhẹm vào tâm thức những tình cảm và tư tưởng mà bạn thích hoặc không thích.
Trong thiền minh sát, chúng ta không lựa chọn gì hết. Chúng ta để cho tất cả -- ngay cả những gì tầm thường và vô giá trị -- hiện ra trong tâm, rồi buông bỏ nó. Chúng ta thấy và biết những điều kiện nầy đơn thuần như chỉ là những điều kiện. Và vì thế, tự bản chất, thiền minh sát là một việc làm đầy bi mẫn. Chúng ta không tìm cách chiếm hữu và chấp thủ vào mỗi sự vật như thể nó là một thực thể có thật, là một con người có thật hay là một cái gì "thuộc về chúng ta". Thay vào đó, chúng ta chỉ thấy và biết mỗi sự vật như là một điều kiện sinh rồi diệt. Ngay cả nếu có những tư tưởng hay cái nhìn điên loạn, chúng ta vẫn có thể để cho chúng hiện lên trong tâm rồi quán sát thay vì đè nén hay chạy theo sự sai khiến của chúng. Ức chế hay mê lầm chạy theo những tư tưởng và tình cảm là hai thái cực; Trung Đạo theo như lời Đức Phật dạy là sự thấy biết thuần túy những điều kiện như là những điều kiện.
Cho phép mọi sự vật hiện ra có nghĩa là để cho những tư tưởng mà bạn không thích hay những nỗi lo âu sợ hãi hiện lên trong tâm. Để làm được việc này, bạn phải thành tâm nghĩ về những tư tưởng nầy. Vì thế, hãy suy nghĩ một cách có ý thức về những điều mà bạn đã giấu giếm một cách bí mật và hy vọng là người đời không một ai sẽ biết về chúng, về những gì mà bạn sợ sệt và không dám nghĩ đến. Những tình cảm bị ức chế và đè nén nầy chính là những động lực đã bí mật điều khiển cuộc đời bạn, vì thế bạn phải chủ tâm làm cho chúng hiện lên trong tâm để có thể nhận diện được chúng. Nhưng khi chúng hiện lên rồi, bạn phải lắng nghe rồi buông xả thay vì bám vào chúng và cho chúng là một cái gì đó đặc biệt khác thường. Hãy xem chúng chỉ là những điều kiện đến rồi đi trong tâm.
A Sumedho