Thứ Hai, 14 tháng 10, 2019

Lời dạy cổ xưa: “Bạn là những gì bạn ăn.”

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.

TÌNH NHỎ LÀM SAO QUÊN || Toại Khanh
Hồi còn ở bên nhà, tôi từng nghe một ông người Bắc bảo rằng dân Nam Bộ xuề xòa vậy mà ngôn ngữ của họ có nhiều chỗ độc đáo kinh người. Như chữ Nhậu chẳng hạn. Trong khi người Bắc nói uống rượu thì đôi khi chỉ có nghĩa là cho rượu vào miệng rồi nuốt ực, tức là uống rượu suông, không có mồi màng, thức nhắm gì ráo. Rồi thì ngồi uống rượu với cả một mâm cỗ thịt thà ê hề cũng vẫn cứ là uống rượu. Tiếng Nhậu trong Nam thì không phải vậy. Chỉ có rượu thôi thì không phải Nhậu rồi. Ít gì cũng phải là một trái xoài, trái ổi để nhâm nhi, mới có chỗ để xài chữ 'nhậu'. Nghĩa là cạnh cái uống, phải có cái ăn thì mới làm nên chữ 'nhậu'. Chữ Nhậu phải hiểu vậy mới đúng, mới đã!
Rồi tới cái ngày xa xứ, tôi một túi vải lên đường với bao thứ gói ghém trong cái tâm tình viễn mộng, bao gồm vài món không dám xao lãng trong tấc dạ. Một trong những món hành trang đó dĩ nhiên có cả một thứ ngôn ngữ đã nói đến mềm môi. Giữa xứ người mênh mông, đôi lúc chỉ thèm nghe lại một câu chữ bằng tiếng ta thiệt đúng điệu cho ấm lòng. Thế thôi, vậy mà đâu phải muốn là được. Vậy rồi bỗng một ngày đang ngồi nhơi như bò mấy bài vở dễ ghét của đám người mắt xanh, da trắng, tôi chợt thấm thía một con chữ tiếng Việt bao lâu qua vẫn làm tôi xao lòng mà ít khi để ý. Đó là chữ Nhớ, thâm thúy gấp trăm lần chữ Nhậu kia nữa.
Mấy tiếng Miss, Recall, Remember, Recollect, Memories… trong Anh ngữ hình như không đủ để dịch đúng chữ Nhớ của tiếng Việt. Chẳng biết có phải tôi đã giàu tưởng tượng quá chăng?
Một đứa bé giữa đêm thức giấc không thấy có mẹ nằm bên thì khóc. Đó cũng là nhớ. Biết đi biết chạy, nó không quên chỗ cất mấy món đồ chơi, đó cũng là nhớ. Tuổi dậy thì, nó cứ bâng khuâng khi nghĩ về một người dưng bằng thứ cảm giác chưa từng có với những người thân trong nhà, đó cũng là nhớ. Phạm Thái với Quỳnh Như, Loan và Dũng, Lan và Điệp, cũng đều là nhớ. Cao xa và thiêng liêng hơn một chút, người của Lục Quốc đối với Kinh Kha sau ngày chàng bỏ mạng trên đất Tần cũng là một chữ Nhớ… Đại khái, tình nhà hay tình nước, tình bạn tri âm hay tình yêu nam nữ, cao thấu trời hay thấp tận bùn thảy đều là Nhớ hết. Chỉ một chữ đó thôi, thi ca rồi âm nhạc nối nhau ra đời suốt mấy ngàn năm qua. Đời sống của con người cũng không thể không dành cho nỗi nhớ kia một góc rộng và sâu. Tôi nghĩ hoài cũng không sao tìm ra được một hạng người, sống mà không cần đến tối thiểu một nỗi nhớ. Mấy ông vua thái tổ của các triều đại cổ kim đều lập quốc từ chữ Nhớ, người tầm thường xây dựng gia đình hay cuộc sống riêng tư cũng bằng một nỗi nhớ. Những tâm niệm đau đáu ngay ngáy của một doanh nhân trên thương trường, một nhà ngoại giao hay một chính khách trên chính trường, một tướng lãnh ngoài chiến trường, thậm chí trâu nhớ ngõ, chó nhớ đường cũng cứ là một chữ nhớ đó thôi. Chữ Nhớ đó càng thần diệu vào một ngày tôi lần đầu xem kinh Phật…
“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường duy nhất dẫn đến Niết-bàn, tức bốn Niệm Xứ này đây. Ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm diệt trừ tham ưu ở đời…”
Trời ạ, cái gọi là con đường giải thoát duy nhất ấy cũng chỉ là hành trình của một nỗi nhớ mà chữ Phạn xưa gọi là Sati, tiếng Anh bây giờ có dịch sao cũng không đúng. Hán tạng xưa giờ vẫn dịch chữ Sati đó là Niệm. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học để biện giải phân tích kiểu bác học, chỉ lấy làm tâm đắc với phép Lục Thư đã làm nên chữ đó: Một chữ Kim (今) (bây giờ) nằm trên chữ Tâm (心) thành ra chữ Niệm (念), ngụ ý Niệm là khả năng ghi nhớ mọi chuyện như là chúng đang xảy ra. Từ lâu nay trong phòng sách của tôi vẫn có một bức tranh không mấy người để ý: Tôi đã cắt dán một trái tim ghép vào bên dưới bức hình Kim Tự Tháp của Ai Cập để thỉnh thoảng tự cho mình là hành giả. Treo nỗi nhớ trước mặt mà lòng cứ quên. Quên đạo để nhớ về đời!
Như đã nói ở trên, toàn bộ những thứ làm nên cõi nhân gian vui ít buồn nhiều này chỉ là những nỗi nhớ. Chuyện đó đã đành. Nhưng có ai ngờ được là đã vào bằng nỗi nhớ thì cửa ra cũng vẫn là một nỗi nhớ khác. Một đứa bé hay một người làm cái chuyện khai sơn lập quốc, chí đến một bậc đại sĩ cầu đạo vô thượng… ai cũng đều cầm tay một chữ nhớ mà lên đường vào cuộc bể dâu…
Nỗi nhớ từ đó đã là một đất trời vạn đại cho nhất thiết pháp giới dung thân. Nó là đất sống mà cũng là cõi chết, là cơ nghiệp dựng xây mà cũng là hành trình tự hủy. Một Mỵ Châu đã vì nỗi nhớ mà chấm hết đế nghiệp của phụ vương, một Huyền Trân đã vì nỗi nhớ mà mở rộng quốc thổ cho dân tộc, một hoàng tử Tất-đạt đã nhờ một nỗi nhớ mà trở thành bậc đại giác. Nói gọn lại, anh chính là những gì anh nhớ đến trong thao thức, trở trăn!
Tất thảy những suy tư ngờ nghệch đó về nỗi nhớ, ai ngờ đã được phôi dựng từ một xúc cảm lạ lùng với bài thơ ngẫu nhiên tìm thấy và nghe được của ông Du Tử Lê: Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời!
Ông nói đúng lắm. Chỉ một nỗi nhớ thôi, nghìn kiếp còn chưa thấm tháp bõ bèn gì, nói chi là cái trăm năm ngắn ngủi của một kiếp người mù sương… Nhưng chỉ những câu chữ và ý tưởng của riêng ông thì vẫn chưa đủ để tôi chìm sâu hơn vào những nỗi nhớ. Trần Duy Đức đã một ngày đẩy nỗi nhớ đó lên một cõi thinh không xa vời mộng mị bằng những làn điệu xa vắng, khơi vơi đến mê hoặc, và cái giọng khàn khàn khó kiếm của Lê Uyên đã giúp tôi lên tới được cái ngọn nguồn thăm thẳm đó vào một đêm khuya nhìn quanh không người. Biết cảm ơn người nào trong số họ đây?
Megahut, Jan/7/09

CÔNG VIỆC SAU KHI THÀNH PHẬT CÓ PHẢI LÀ NGHĨ NGƠI, HƯỞNG PHƯỚC HAY KHÔNG?
Phật sau khi thành đạo không thể nói là không còn việc gì, mà sau khi thành đạo, một sự việc to lớn duy nhất chính là phải thực hiện nguyện đã phát ra ở trong nhân địa, phải thực hiện viên mãn, không thể nói rồi mà không làm. Trong nhân địa đã phát ra nguyện gì? “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, cho nên sau khi thành Phật chỉ có một sự việc là đi độ chúng sanh. Ý nghĩa của ba chữ “độ chúng sanh” này chính là thương yêu chúng sanh, quan tâm chúng sanh, thương xót chúng sanh, toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh, đó chính là ý của chữ độ. Sau khi thành Phật thì chuyên môn làm việc này, đúng như trên Kinh đã nói: “Ngàn nơi mong cầu ngàn nơi đến”. Nơi nào chúng sanh có cảm, Phật liền nhất định hiện thân. Chúng sanh có cảm quá nhiều, cảm chính là mong cầu, cầu Phật Bồ Tát bảo hộ, cầu Phật Bồ Tát gia trì. Ý niệm mong cầu này chính là cảm. Chỉ cần có cầu thì Phật liền có ứng. Chúng sanh cầu Phật thì có hai loại cầu, có cái cầu rõ ràng gọi là hiển cầu; có cái cầu âm thầm. Cầu âm thầm là chính mình thật có ý niệm mong cầu nhưng chính mình không phát hiện ra. Có thể thấy được ý niệm này dường như rất là vi tế, chính mình không phát hiện ra. Một ý niệm vi tế như vậy chính mình không biết, thế nhưng cảm ứng của Phật rất linh mẫn, các Ngài đã cảm ứng đến, các Ngài đã quan sát đến. Khi quan sát đến thì Phật nhất định có ứng.
Ứng của Phật cũng có hai loại, có hiển ứng, có minh ứng. Minh ứng thì bạn không thể cảm giác được, Phật đích thực đang ở chung quanh bạn, ở bên cạnh bạn giúp đỡ bạn, nhưng chính bạn không hề cảm giác được. Hiển ứng là để chúng ta cảm nhận được, hoặc giả bạn nhìn thấy được hình tượng của Phật Bồ Tát, hoặc giả bạn nghe được âm thanh của Phật Bồ Tát. Như chúng ta xem thấy ở trên “Kinh Địa Tạng”, Bà La Môn nữ cúng dường đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, nghe được âm thanh của Phật, đó là hiển ứng rõ ràng. Cô có thể nói chuyện với Phật, tuy là Phật không hiện thân, không nhìn thấy thân tướng, thế nhưng nghe được âm thanh. Cho nên, cảm và ứng đều có minh - hiển khác nhau, có minh cảm - hiển ứng, minh cảm - minh ứng; có hiển cảm - hiển ứng, hiển cảm - minh ứng. Cảm ứng đạo giao có bốn loại khác nhau. Chúng sanh thế gian chúng ta căn tánh chín muồi, đó là minh cảm, không phải là hiển cảm.
Vào ba ngàn năm trước, chúng sanh thế gian này căn tánh chín muồi, cảm động Thích Ca Mâu Ni Phật ứng hóa đến thế gian của chúng ta. Phật là hiển ứng, ứng hóa rõ ràng. Phật xuất hiện ở thế gian này không có người quen biết, không có người thỉnh pháp. Nếu không người thỉnh pháp thì Phật phải nhập diệt, phải vào Bát Niết Bàn, Ngài ở thế gian này không có việc gì làm. Phàm phu chúng ta ngu si không biết Thế Tôn thành Phật, không biết có Phật xuất thế, may mà người Trời Tịnh Cư biết được (người Trời Tịnh Cư chính là ngũ bất hoàn thiên trong đệ tứ thiền, trong tầng trời thứ năm này đều là người tu hành, không phải là phàm phu, trong Kinh điển nói là “thánh nhân Tam quả trở lên”). Nơi đó là đạo tràng lớn, họ nhìn thấy được Phật xuất hiện ở thế gian này, vội vàng đi xuống thay mọi người chúng ta khải thỉnh, thỉnh pháp, thế là Thế Tôn tiếp nhận lễ thỉnh của chúng sanh, nên mới bắt đầu vì mọi người giảng Kinh nói pháp, triển khai sự nghiệp giáo hóa chúng sanh của Ngài. Sự nghiệp này dùng lời hiện đại mà nói là “công tác giáo dục xã hội”, Ngài triển khai công tác giáo dục xã hội của Ngài.
A DI Đà Phật
HT. Tịnh không

DINH DƯỠNG VI TẾ.
Đây là những chia sẻ tâm huyết, các bạn lưu lại đọc kỹ. Khái niệm dinh dưỡng ở đây hiểu theo nghĩa rộng.
“Bạn là những gì bạn ăn” là thành ngữ phổ biến ở nhiều dân tộc, về tâm linh, đó là sự thật và mang ý nghĩa rất sâu sắc.
📎ĐIỀU THỨ NHẤT, mọi tồn tại tác động vào chúng ta đều có ba thuộc tính tùy thuộc tần số của chúng:
* Rung động Sattva – hòa thanh tráng kiện
* Rung động Tamas – nặng trược
* Rung động Rajas – kích động
Ba yếu tố này, trong không gian, khí quyển, thực phẩm, đồ uống, quần áo, thuốc… là những kiến thức vi tế nhất về dinh dưỡng mà tới nay loài người biết. Ba yếu tố không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà cả tinh thần. Tất cả những ai muốn dấn thân vào thực hành tâm linh hay trở thành người dẫn kênh đều phải nhuần nhuyễn các kiến thức này, nếu không hiểu thì không chống lại được các cuộc tấn công năng lượng tiêu cực từ khí quyển cũng như không hấp thụ các rung động tích cực vẫn rót xuống liên tục từ các cõi thanh nhẹ hơn.
📎ĐIỀU THỨ HAI, hệ thống luân xa của chúng ta được xếp làm 2 nhóm:
* Nhóm các luân xa trên, số 4,5,6,7 và vùng trống, đáp ứng chủ yếu hoạt động trí tuệ.
* Nhóm các luân xa dưới, số 1,2,3 đáp ứng chủ yếu cho chiều kích thế gian.
Ba yếu tố tác động tới hoạt động của các luân xa trên và các luân xa dưới khác nhau.
📎ĐIỀU THỨ BA, ba yếu tố tác động vào cá thể hạnh phúc, cá thể đau khổ, cá thể ù lỳ khác nhau chứ không đồng đều. Tức là, cùng một loại thức ăn, cùng một bước sóng, cùng một môi trường, cùng một bộ quần áo… thì người hạnh phúc hấp thu và chuyển hóa khác với người đau khổ. Bởi vậy chớ dại bắt chước người khác mà không suy nghĩ.
Nếu cá thể hạnh phúc thì thành phần Tamas duy trì trong một thời gian ngắn còn Sattva được duy trì trong khoảng thời gian dài hơn. Một cá nhân như vậy dễ thanh tẩy Tamas và bảo toàn Sattva.
Lưu ý, hạnh phúc và đau khổ đề cập ở đây là trạng thái nội tâm chứ không theo các tiêu chuẩn thế gian kiểu như phúc-lộc-thọ-khang-ninh.
Quá trình thay tẩy Tamas nhanh hay chậm phụ thuộc vào cá thể hạnh phúc hay đang đau khổ tức là phụ thuộc vào nghiệp.
📎ĐIỀU THỨ TƯ, thói quen kiểm soát cảm xúc và tâm trí cùng các thực hành tâm linh rốt ráo thuận nhân quả đem lại lợi ích to lớn, có tác dụng như một sự đề kháng chống độc tự động rất vi tế. Khi cá thể đạt được mức 6/10 nội hàm tâm linh của con đường tu tập thì tất cả các yếu tố đều ít ảnh hưởng hơn, nghĩa là chúng ta chống lại được rung động tiêu cực nhiều hơn, chúng ta ít bị ô nhiễm hơn. Điều này giải thích một thực tế rất khó hiểu trước mắt mọi người là, tại sao một số hành giả cao cấp khi hết kỳ nhập thất lại không giữ chay nghiêm ngặt mà tùy duyên thọ thực do thí chủ bố thí, hay họ hóa độ cả ở những nơi ô trược đầy rung động Tamas và Rajas như bãi tha ma, nhà thổ, lò sát sinh, ngục, nhà thương điên… [những địa điểm mà hành giả mới nhập môn được răn là phải tránh xa], hay họ có thể đi một mình trong đêm từ 12 giờ tới 2 giờ sáng là khoảng thời gian Tamas nặng nhất.
📎ĐIỀU THỨ NĂM, về mặt thực phẩm, ở đây tôi chưa đề cập tới áo quần, khí quyển…, chỉ có rung động Sattva – hòa thanh tráng kiện từ thức ăn chay mới kích hoạt chức năng Chetana – tức “ý thức thần thánh chi phối tâm trí”, kết quả là, rung động hòa thanh tráng kiện lan nhanh khắp cơ thể, lợi ích bất khả tư nghị. Trường chay 7 năm thì cơ thể đạt tới trạng thái tự báo, tự thanh lọc thực phẩm ô trược.
4 luân xa trên nhạy cảm hơn 3 luân xa dưới trong việc đáp ứng với ba yếu tố, chúng tự kích hoạt để khử tác động của tần số Tamas nặng trược khi ăn thịt dẫn tới sự mất năng lượng ròng của các luân xa trên. Bất kỳ ai hành thiền đều đặn đều biết rõ rằng, nếu bữa tối có thịt thì đêm thiền không hiệu quả, đó là do 4 luân xa trên đang mất năng lượng để thanh lọc yếu tố Tamas và Rajas. Nếu ăn thịt kéo dài, các luân xa trên cũng như dưới trở nên ù lỳ. Cần chú ý rằng, con người vốn không được Thiên tạo thiết kế để ăn thịt, chúng ta không thể ăn thịt mà không tẩm ướp rất nhiều gia vị, muối mắm, như vậy thịt Tamas luôn đi kèm Rajas – một tác động tiêu cực đúp.
📎CẢNH BÁO, một số người thiếu kinh nghiệm, khi thấy 4 luân xa trên gia tăng hoạt động lại tưởng là luân xa quay mạnh nhưng thực ra là nó bị kích thích do hấp thụ tần số Tamas nặng trược từ việc ăn thịt, sự gia tăng hoạt động lúc này chỉ nhằm tẩy trược.
Khi các luân xa trên tăng cường tẩy trược thì các luân xa dưới đình trệ, điều này không khó hiểu, cùng một mức năng lượng, ví dụ nôm na là khả năng tài chính, một tháng lương bạn mua thứ này thì phải giảm mua thứ khác.
Sau đó, khi thành phần Tamas nặng trược trong cơ thể bị phá hủy, bốn luân xa trên cố gắng lấy lại Sattva đã bị suy giảm đi trong ‘trận chiến’, bạn rất cần bổ sung sinh tố rau củ quả tươi và một số yếu tố khác mà trong khuôn khổ bài này tôi chưa thể đề cập. Sau khi trẻ chạy chơi, tắm nắng hay bơi lội hoặc người lớn tập thể thao, tuyệt đối không uống nước đường mà dùng sinh tố hỗn hợp rau củ quả để Sattva được hấp thu triệt để, giúp cơ thể thanh lọc Tamas. Khi bị nhiễm độc bởi thuốc, ví dụ như corticosteroid cũng áp dụng thanh lọc.
Khi ăn chay, tần số Sattva cải thiện hoạt động của bốn luân xa trên dù người ăn đau khổ hay hạnh phúc. Ở những người tập yoga, dù hạnh phúc hay đau khổ thì 2 luân xa dưới được cải thiện khi họ chuyển sang ăn chay. Thức ăn chay có lợi hơn cho hoạt động tối ưu của cơ thể, cảm xúc và tâm trí. Nếu chưa ăn chay được, chúng ta phải cố gắng giảm tiêu thụ thịt và tăng lượng thực vật tươi sống. Bạn đã bao giờ thấy ai thanh tẩy tiêu độc bằng thịt cá chưa, tất cả đều bằng thực vật, chỉ có thực vật.
Từ hàng ngàn năm trước, tôn giáo đã giảng dạy về những điều này rất chi tiết, ngày nay, khoa học thực nghiệm đã đo được các thông số cụ thể trên hệ thống luân xa Kundalini nhờ máy quét Electrosomatographic với sự trợ giúp của máy phản hồi sinh học DDFAO.
Lời dạy cổ xưa: “Bạn là những gì bạn ăn.”

phước nè, phước nè, mại dzô

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.

ĐÔNG Y CHỨNG MINH TÌNH DỤC GÂY HẠI

Đông y và Tây y quan niệm khác nhau. Tây y thì cho rằng tình dục không có hại trong khi cổ nhân đã khuyên dạy: “Một người nam bình thường quan hệ lúc 30 tuổi 8 ngày/ lần, lúc 40 tuổi 16 ngày/ lần, lúc 50 tuổi thì 20 ngày/ lần, lúc 60 tuổi thì phải bế tinh cấm dục. Đối với người sức khỏe yếu thì càng phải thanh tịnh thân tâm mình”. Còn xã hội hiện nay không phải 8 ngày/ lần mà là 8 lần/ ngày. Họ làm cho cơ thể này tổn thương đến mức không thể tổn thương hơn nữa.

Trong lâm sàn tôi đã gặp rất nhiều trường hợp mới 30 tuổi nhưng lại có mạch tượng của người 60 tuổi, lão hóa sớm. Chúng ta nên biết Đông y đã có nguồn gốc từ xa xưa cách đây hơn 5.000 năm, đã được kiểm chứng bởi thời gian. Còn đối với Tây y thì rất cạn cợt. Tôi lấy ví dụ như khi trẻ bị Amidan thì Tây y sẽ đề nghị cắt đi, nhưng về sau họ lại nghiên cứu ra rằng Amidan có công năng miễn dịch. Kiến thức y học phương tây thì cập nhật lúc này lúc khác. Thứ hai, có những quốc gia trẻ em khi mới ra đời họ đều cho cắt bỏ ruột thừa đi, nhưng y học hiện đại lại nghiên cứu ra rằng ruột thừa hữu ích vì ruột thừa là nơi có rất nhiều tế bào liêm phô trưởng thành. Sức miễn dịch của nó rất có ích trong việc tăng cường sức miễn dịch. Thử hỏi lứa trẻ em bị cắt bỏ ruột thừa 20 năm trước ai sẽ chịu trách nhiệm? Ở những ví dụ này ta thấy Tây y đi trên những con đường mò mẫm, chấp vá là tình trạng dò đường để qua sông.
Tây y như một thanh thiếu niên loạng choạng, chấp vá muốn kéo bạn lại để truyền kinh nghiệm sống. Đông y thì 5.000 năm nay không hề thay đổi đã chứng minh đạo lý mà đã được khảo nghiệm bởi con người và thời gian. Trong cuốn Hoàng Đế Nội Kinh đã nói con người không nên bị mê mờ bởi những thứ dục vọng và sắc dục từ bên ngoài. Nội tâm không nên để những thứ tà dâm này làm ô nhiễm. Do đó, họ có thể sống đến 100 tuổi mà không bị suy tàn, nhanh nhẹn và nhạy bén.

Trích "Tác Hại Nặng Nề Của Chứng Thủ Dâm"- Bác sĩ Bành Tân

NHỮNG ĐIỀU ÔM GIỮ TRONG LÒNG VÀ VƯỚNG MẮC TRONG ĐỜI, SẼ LÀM TỔN THỌ, MỜ MẮT
Y học Phật giáo khiến ta rất bất ngờ

Lợi ích của những chuyện thường nhật mà ta không nhận ra
.
.
Trong cơ thể, có hai bộ phận lưu giữ đống thức ăn khó tiêu hóa: RUỘT và MIỆNG
Hễ thức ăn khó tiêu thì trong RUỘT (Tràng) rối loạn, khó ăn, khiến ta đói mà không nuốt nổi, Khí vì thế mà nén rồi nặng nề, Tinh vì không thể hóa Khí mà ứ đọng, Thận là nơi tàng Tinh, vì thế mà nhơ bẩn. Vậy là TRÀNG (ruột) lưu thức ăn làm THẬN KHÍ SUY
Còn thức ăn mà không đi được xuống Thủy Cốc Hải (thực quản đến Vị - dạ dày), vướng lại trên miệng, sẽ khiến Can khí đi lên Mắt bị gián đoạn, mắt do đó ngày càng mờ đục, Can khí bị tắc sẽ phân rã, gây ra mùi hôi thối, Can khí tắc sẽ rơi ngược lại vào gan, khiến Đởm (mật) bế tắc, vị không xử lý Dinh khí thuận hòa nữa, càng ăn càng thấy đau mệt chán nản. Vậy là mồm chứa thức ăn làm CAN KHÍ HOẠI
Vậy làm sao để giải quyết thức ăn thừa tồn đọng trong RUỘT và MIỆNG?
Nhà Phật trong KINH TĂNG CHI BỘ, chương V, phẩm Kimbila có chép lại cách thức phi thường của Phật giáo giải quyết hai vấn đề này:
• Cháo
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của cháo. Thế nào là năm?
2. Trị đói, trừ khát, điều hòa phong, làm sạch bọng đái (hay thuyết quản) và tiêu hóa các đồ ăn sống còn lại
Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của cháo.
• Tăm Xỉa Răng
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm điều nguy hại do không dùng tăm xỉa răng. Thế nào là năm?
2. Con mắt bị ảnh hưởng, miệng hôi thúi, thần kinh vị không trong sạch, nước mật và đàm dính vào đồ ăn, ăn không thấy ngon
Này các Tỷ-kheo, có năm điều nguy hại này do không dùng tăm xỉa răng
3. Này các Tỷ-kheo, có năm điều lợi ích nhờ dùng tăm xỉa răng. Thế nào là năm?
4. Con mắt không bị ảnh hưởng, miệng không hôi thúi, thần kinh vị được trong sạch, nước mật và đàm không dính vào đồ ăn, ăn thấy ngon
Này các Tỷ-kheo, có năm điều lợi ích nhờ dùng tăm xỉa răng
.
.
Đọc KINH PHẬT, thấy thật cảm khái

Nhìn từ góc độc ĐÔNG Y, cháo loãng là ĐỊA KHÍ tinh hoa được hợp nhất với THỦY KHÍ, chính là một loại TINH KHÍ bổ sung cho THẬN, lại đi vào đường THỦY CỐC mà xuống đến ruột rồi dùng cái TINH THUẦN của mình mà đả thông ruột, thúc đẩy lại THẬN KHÍ. Đúng là kì-Dược
Cũng thế, việc xỉa răng bằng hành MỘC (tăm gỗ là MỘC đã kết tinh) chính là dùng CAN KHÍ mà đả thông chỗ chỗ CAN KHÍ bị HOẠI, bản thân việc DÙNG TĂM XỈA RĂNG, chứ không chỉ là việc mồm sạch trở lại, giúp CAN KHÍ thông suốt
Tuy nói đơn giản vậy, nhưng để thấu hiểu cách thức sử dụng những yếu tố thông dụng như CHÁO (vô vị) và TĂM (vô dụng) để làm thay việc mà VỊ không làm nổi, MIỆNG không dụng nổi, quả thật là phi thường. Trong Đông Y, Thận mà suy, Gan mà hoại, thì uống trăm nghìn thứ thuốc
Trí tuệ của nhà Phật thoạt nhìn đơn giản, thật sự to lớn
.
.
Trong đời người ta, đều có những việc tuy vô nghĩa nhưng cứ để trong LÒNG, tuy vô ích nhưng cứ giữ trong MIỆNG
Vứt đi không nổi, nói ra không xong, nhưng bảo vứt bỏ thì bất lực. Cứ thế TINH KHÍ suy tàn, CAN KHÍ suy vong, mạng thì tổn, mắt thì mờ, mà lòng dạ bất an, miệng lưỡi đắng nghét, một đời khổ sở
Cái gì không giữ nổi, thì BAO DUNG với nó mà THÔNG SUỐT như CHÁO
Cái gì không dùng nổi, thì BUÔNG BỎ nó đi mà THOẢI MÁI như TĂM
Người biết BAO DUNG và BUÔNG BỎ, thì sống THỌ mà MẮT SÁNG, nhìn 6 cõi thấy đủ CHÂN TƯỢNG
Chẳng phải là vui sướng hơn sao?
Vậy sao phải ÔM GIỮ, vậy sao phải VƯỚNG MẮC? Hả Người?
HẢ ĐỜI?
.
.
.
Nếu có bất kì vấn đề nào cần giải đáp, các bạn có thể gửi câu hỏi đến Hắc Hoa Đà theo link: http://hachoada.loivangyngoc.com/
Vào một chiều thu lá rụng kia, Ngài Xá Lợi Phất với thiên nhãn, thiên nhĩ đã nghe thấy tiếng Thiên Long Bát bộ xua đuổi và ngài nhìn thấy một người đàn bà gầy ốm tanh tưởi hôi thúi. Đó là một nữ ngạ quỷ. Bà ta nói: “Tôi là mẹ của ngài kiếp xưa, tôi khổ quá tôi tìm đến ngài mà sao bị xua đuổi.” Ngài Xá Lợi Phất can thiệp, ngài nói với các vị hộ thần “Hãy để cho bà ấy vào, bà ấy là mẹ cũ của ta năm kiếp trước.” Trong kinh Nam Tông không nhắc gì về ngài Mục Kiền Liên với chữ Hiếu mà chỉ kể chuyện vì đâu ngài Mục Kiền Liên bị chết thảm lúc cuối đời. Đó là do ngài từng xử tệ với cha mẹ trong kiếp trước. Còn chữ Hiếu trong kinh Nam Tông là kể về ngài Xá Lợi Phất. Ngài đã độ cho người mẹ kiếp trước và với người mẹ kiếp này ngài cũng làm tròn bổn phận trước khi ngài mất. Không hiểu vì lý do nào PG Bắc Tông lại làm ngược lại, đưa ngài Mục Kiền Liên lên thành đại hiếu Mục Kiền Liên và đưa ra chuyện Mục Liên Thanh Đề, không biết ở đâu ra chuyện đó.
Ngài Xá Lợi Phất sau khi gặp ngạ quỷ, ngài có hứa sẽ giúp cho bà, ngài nói ngày mai mới giúp được. Hôm sau ngài đi khất thực rồi đem bát cơm đó cúng dường cho đức Phật và chư tăng, sau đó hồi hướng công đức cho nữ ngạ quỷ kia. Người đứng ra làm phước đó là ngài - Đệ nhất trí tuệ, Tướng quân chánh pháp Xá Lợi Phất, người nhận chính là Đức Phật và toàn thể đại chúng thánh tăng, công đức này trời biển nào chứa hết. Vì vậy nữ ngạ quỷ trong vòng 3 nốt nhạc đã biến mất khỏi hành tinh và có mặt ở thiên giới.
Cho nên chúng ta hãy nhớ rằng quyến thuộc nhiều đời của chúng ta cũng như những người không quen biết cũng có thể nhận công đức phước báo của chúng ta nếu như chúng ta hồi hướng không phân biệt. Chúng ta hãy tưởng tượng rằng nếu mình là cô hồn khổ quỷ lang thang đầu đường xó chợ, đầu ghềnh cuối bãi bỗng một ngày nghe ai đó có lời hồi hướng cho vạn loại chúng sinh, cho những ai đang cần phước báu, “phước nè, phước nè, mại dzô” thì lập tức lòng hoan hỉ sanh thiên; chứ còn chỉ biết nghĩ cho Nguyễn Văn A, Trần thị Tèo mà không nghĩ đến vô lượng chúng sinh thì chúng ta đã vô tình cô phụ biết bao nhiêu bà con thân quyến nhiều đời của mình. Mai này tôi có mất đi, tôi cũng chỉ mong ở các pháp hội người ta nhớ đến tôi -- người một thời chia sẻ với bà con mỗi buổi chiều, mà bây giờ đi đâu mất. Còn tôi đi bằng nghiệp gì thì chỉ có trời mới biết. Mong là quí vị nhớ cái này mà sống đẹp hơn, trách nhiệm hơn. Toại Khanh Readers

Những bài giảng Kinh Tương Ưng, tập 5
Sư Giác Nguyên (giảng)

Đừng bắt chước ai cả

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.

THEO DÕI TÂM MÌNH ĐÃ MỆT LẮM RỒI ,TẠI SAO PHẢI MANG THÊM GÁNH NẶNG PHÁN ĐOÁN NGƯỜI KHÁC .


Thiền không tách rời khỏi cuộc sống .Mọi tình huống đều cung cấp cho chúng ta cơ hội để tu hành ,để phát triển trí huệ và lòng từ ái , Achaan chah dạy rằng tu hành đúng đắn là duy trì chánh niệm trong tất cả mọi hoàn cảnh .Chúng ta không trốn tránh thế gian ,chúng ta tập sống trong thế gian mà không nắm giữ hay bị ràng buộc .

Ngoài ra ngài nhấn mạnh rằng đức hạnh là nền tảng của đời sống tâm linh . Mặc dù xã hội hiện đại của chúng ta thờ ơ về đức hạnh ,giới hạnh phải được xem là nền tảng của việc hành thiền .Giới hạnh có nghĩa là tránh làm thương hại những chúng sanh khác với thân , khẩu , ý .Sự tôn trọng và thương yêu này khiến chúng ta sống hoà hợp với muôn loài chung quanh chúng ta .Chỉ khi nào lời nói và việc làm của chúng ta phát xuất từ tình thương ,chúng ta mới có thể an tâm và định trí .Vì thế ,bất bạo động là bước đầu tiên trên con đường tâm linh của chúng ta .

Để duy trì cuộc sống Trung Đạo , Achaan chah dạy về sự tri túc và tự lực .Đời sống dư dật gây chướng ngại cho sự phát triển trí huệ . Tri túc trong việc ăn uống ,ngủ nghỉ và nói giúp quân bình đời sống nội tâm và đồng thời phát triển khả năng tự lực . “Đừng bắt chước lối tu hành của người khác ,và cũng đừng so sánh mình với họ “

Achaan chah nhắc nhở “ Đừng để ý đến họ “ .Theo dõi tâm mình đã mệt lắm rồi ,tại sao phải mang thêm gánh nặng phán đoán người khác .Tập sử dụng hơi thở của mình và xem cuộc sống hằng ngày của bạn như am thiền của bạn ,rồi trí huệ của bạn chắc chắn sẽ phát triển .

T.S : Ajahn Chah
Dịch Giả : Minh Vi

GIỮ TÂM NHƯ NGỌC ĐẮC PHÚC BÁO, HAM MÊ TÀ DÂM TIỀN ĐỒ TIÊU TAN

Một niệm tà dâm khởi lên, Trời Đất đều thấu tỏ. Chỉ khi khống chế được những ý nghĩ tà dâm của mình, người ta mới có thể trở nên cao thượng và chính trực hơn.

Triệu Vĩnh Trinh sống vào thời Minh. Ngày nhỏ từng có cơ duyên gặp được một kỳ nhân. Ông ta nói với Vĩnh Trinh: “Cậu là người rất có thiện căn, đến năm 23 tuổi nếu đi thi Hương ắt sẽ đỗ khoa bảng. Nếu như có thể nỗ lực tu thiện thì tiền đồ sau này quả là rộng mở vô hạn”.

Nhưng tới năm 23 tuổi Triệu Vĩnh Trinh đi thi Hương lại bị rớt. Một hôm Triệu Vĩnh Trinh nằm mơ gặp được Văn Xương Đế Quân. Trong mơ Văn Xương Đế Quân quở trách: “Lần thi Hương này của nhà ngươi vốn dĩ được đứng đầu khoa bảng, nhưng vì nhà ngươi trong tâm có tà niệm, nhìn trộm thị nữ, đồng thời lấy việc trêu ghẹo con gái người ta làm thú vui cho nên bị cắt hết công danh bổng lộc”. Triệu Vĩnh Trinh nghe xong vội vàng giải thích: “Tuy tôi có ý tà dâm nhưng mà chưa từng làm điều dâm loạn với bọn họ, lẽ nào như vậy cũng tính là phạm tội để rồi bị trừng phạt như thế này sao?”.
Văn Xương Đế Quân nghe Triệu Vĩnh Trinh bao biện như vậy quở trách: “Nhà ngươi cho rằng thực sự làm việc tà dâm mới có tội sao? Phàm bất kỳ ai chỉ cần trong tâm có ý niệm tà dâm thì dù chỉ là một chút tơ tưởng cũng đủ kết thành trọng tội. Cho dù bản thân chưa thực sự làm điều đó nhưng đã có ý truy cầu đều sẽ bị trừng trị cắt hết phúc lộc. Huống hồ nhà ngươi không phân biệt nam nữ, lại còn trêu hoa ghẹo nguyệt, vỗ vai, kéo tay bọn họ để mong họ khởi niệm tình ý với nhà ngươi, khiến cho bọn họ chìm trong tình mê ý loạn mà đau khổ. Thiên thượng cũng vì đó mà cắt đi công danh phúc lộc của nhà ngươi. Nếu như từ nay nhà ngươi vẫn không chịu hối hận, cải tà quy chính thì e rằng sau này còn phải chịu tai hoạ giáng xuống nghiêm trọng hơn cả trăm lần”.
Triệu Vĩnh Trinh nghe Văn Xương Đế Quân giảng giải Thiên lý xong mới thấy hối hận vô cùng, lập tức phủ phục bái lạy, cảm giác thống khổ đến rơi lệ mà nói: “Tôi nguyện từ nay cải bỏ thói hư, mắt không nhìn nghiêng, tâm không vọng động. Nếu như trong tâm vẫn còn ý niệm tà dâm thì nguyện cam lòng để trời cao trừng phạt, nhận quả báo thân xác phân lìa”.
Văn Xương Đế Quân nhìn thấy tấm chân tình thực tâm hối cải của Triệu Vĩnh Trinh, lại phát ra lời thề độc để giữ vững ngôn hành của mình xong liền đáp: “Nhìn thấy nhà ngươi thực tâm hối cải, nếu như có thể không tái phạm, lại có thể khuyên bảo con người thế nhân chú ý ngôn hành và tạp niệm của mình không phạm phải tà dâm vọng niệm, thì sau này không những khôi phục được công danh phúc lộc mà tiền đồ còn được rộng mở vô biên”, nói xong lấy bút chỉ vào tim của Triệu Vĩnh Trinh. Triệu Vĩnh Trinh thấy vậy kinh động giật mình tỉnh dậy.
Tỉnh dậy, Triệu Vĩnh Trinh nhớ lại rất rõ giấc mơ đó, thấy bản thân mình may mắn có thiện căn gặp được Văn Xương Đế Quân giáo huấn để cải đổi sai lầm. Nếu không, Vĩnh Trinh đã mãi sống trong u mờ, sai lệch để mặc cuộc đời trôi dạt không biết về đâu!
Kể từ sau hôm đó, thời thời khắc khắc Triệu Vĩnh Trinh luôn nhắc nhở bản thân không được buông thả chính mình, nhất cử nhất niệm đều tự giáo huấn bản thân không được có bất kỳ một ý nghĩ tà dâm nào cả. Không những vậy Triệu Vĩnh Trinh còn nỗ lực hành thiện, khuyên bảo mọi người từ bỏ tà dâm.
Nhờ tu tâm sửa tính, tới năm 26 tuổi Triệu Vĩnh Trinh tiếp tục tham gia thi Hương được đỗ đầu Hương bảng, thêm động lực để Triệu Vĩnh Trinh gia tăng hành thiện tích đức, khuyên bảo mọi người sống thiện trừ tà. Tiếp đó 4 năm, thiện, đức gia tăng Triệu Vĩnh Trinh thi cử đỗ hàng Tiến sĩ sau đó lại thuận lợi làm tới chức Phong Cương Đại Thần trấn thủ một phương, con cháu đời sau nghe theo giáo huấn của cha, người người phú quý sống đời hưởng phúc.

MÙA SAO THỦY ĐI NGƯỢC CUỐI CÙNG TRONG NĂM 2019
Mùa Halloween năm nay có thể sẽ vui hơn với sao Thủy đi ngược. Dự kiến sự chuyển động của hành tinh này sẽ không gây ra nhiều khó chịu như những lần đi ngược trước đây.
Theo giờ Việt Nam, vào đầu ngày 1.11.2019 (tháng Bọ Cạp) sao Thủy sẽ bắt đầu nghịch hành tại Bọ Cạp. Đây là lần nghịch hành cuối cùng trong năm 2019. Bình thường trong mùa đi ngược của sao Thủy, những chậm trễ về liên lạc hoặc hỏng hóc đồ điện tử dễ xảy ra, không những thế nhiều người còn hay có sự nhớ nhung và muốn liên lạc với người cũ để nói chuyện cần nói (nếu trước đây chưa giải quyết xong, vẫn còn vương vấn). Vì thế nhiều người không thích mùa sao Thủy đi ngược, nhất là lần này tại Bọ Cạp – một cung chủ về cái chết/sự tái sinh biến đổi, thường mang lại cái nhìn tiêu cực, hành động cực đoan – thì càng khiến mọi người lo lắng.
Tuy vậy lần này sao Kim – hành tinh của vẻ đẹp & tính nữ - cũng di chuyển quanh khu vực của sao Thủy; sự trùng tụ của hai hành tinh này khiến mỗi người dễ bộc lộ vẻ đẹp & tình yêu của bản thân với người yêu hoặc mọi người xung quanh. Bạn có thể kết nối lại với một người bạn cũ hoặc quen người mới; cũng có khả năng nhận được tiền (quà tặng hoặc sự đầu tư của người khác) dẫn đến thành công trong công việc/kinh doanh.
Trong cùng khoảng thời gian đó, mặt trời Bọ Cạp tạo góc đối đỉnh với Thiên Vương ở Kim Ngưu, khiến lĩnh vực bị ảnh hưởng sẽ có sự thay đổi/đột phá bất ngờ. Lúc đầu sự thay đổi đó sẽ khiến bạn cảm thấy lo lắng & có xu hướng cưỡng lại, nhưng đó cũng có thể là một cơ hội để làm mọi thứ theo cách tốt hơn, vì thế hãy giữ cho tâm trí cởi mở trước những thay đổi.
Tới khoảng 20-21/11 thì sao Thủy trở lại thuận hành. Vào lúc này Thủy có góc chiếu mềm với mặt trăng ở Xử Nữ, Thổ & Diêm Vương ở Ma Kết, Hải vương ở Song Ngư, dẫn tới những cuộc nói chuyện với bạn bè hoặc đàm phán với đối tác dễ thuận lợi.
Cùng thời điểm đó, mặt trăng & sao Kim lại nhận một vài góc chiếu căng thẳng. Hãy kiểm tra lại #bản_đồ_sao_cá_nhân sẽ biết sao Thủy đi ngược gây ảnh hưởng như thế nào lên từng người vào thời gian này. #Follow_page để đọc những #bản_tin_vận_hạn & #book_lịch qua #inbox_page để tìm hiểu thêm về ảnh hưởng riêng nhé.



Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2019

Rửa ruột

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.




Trong khi quan sát tâm mình (hành thiền), hãy để cho những gì bị đè nén từ lâu trồi lên và hiện ra trong tâm, cho dù chúng có ghê tởm và đáng sợ đến đâu. Khi chúng xuất hiện lên trong tâm, hãy buông bỏ, tự khắc chúng sẽ biến mất. Đây chính là quá trình làm trong sạch hay thanh lọc tâm. Nó giống như tiến trình của việc chữa bịnh bằng cách rửa ruột vậy. Những gì tuôn ra từ ruột sẽ rất xấu xa và hôi thối, nhưng khi đã ra khỏi ruột rồi, bệnh nhân sẽ cảm thấy khỏe hơn nhiều.
Nếu sống ở đời mà không có trí tuệ, chúng ta sẽ luôn tìm cách mưu toan, vận động, lôi kéo, điều khiển và kiểm soát mọi người, thậm chí ngay cả chính bản thân của mình, để bòn mót và chắt lọc giữ lấy những gì mình thích, và chối bỏ những gì mình không thích. Và rồi, khi cuộc đời không cho phép chúng ta điều khiển và kiểm soát mọi việc theo ý muốn của mình, chúng ta sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng, và tất cả những gì mà chúng ta che đậy và dấu diếm từ trước đến nay sẽ tự phơi bày hay bị lột trần -- đó là biến cố tâm lý mà chúng ta gọi là sự khủng hoảng tinh thần hay khủng hoảng thần kinh. Tuy nhiên, nếu hành thiền, bạn sẽ vẫn trải qua những cuộc khủng hoảng tinh thần nhưng đó là những cuộc khủng hoảng mà bạn vẫn có khả năng điều khiển và làm chủ được mình. Bạn sẽ nhận ra rằng tất cả những tư tưởng và tình cảm bất thiện chỉ là những điều kiện của tâm, chúng đến rồi đi và không có tự ngã. Bạn có thể tự cởi trói cho mình bằng cách buông bỏ thay vì tìm cách kiểm soát hoặc đè nén chúng. Và qua việc làm đó, bạn khai mở và giải phóng tâm thức của mình.
Để thanh lọc tâm, chúng ta phải để cho những tư tưởng và tình cảm bị đè nén và ức chế từ lâu được trồi lên và hiện ra trong tâm một cách có ý thức. Tuy nhiên, người đời lại thường cho ý thức là cái gì thuộc về riêng mình, vì thế nên khi có sự bấn loạn hoặc phiền não xảy ra trong tâm, chúng ta thường nghĩ , "Tôi là một người đầy rối loạn và khổ sở." Nhưng khi hành thiền, chúng ta biết được rằng ý thức không phải là tự ngã, nó không phải là một người hay một cá nhân nào đó. Ý thức chỉ là một điều kiện của thế giới tự nhiên. Khi quán sát bản chất thay đổi không ngừng của ý thức, bạn sẽ biết rằng nó không phải là cái ngã, và sự thấy biết nầy chính là công cụ hay cách thức giúp bạn tháo gở và giải phóng tất cả những gì bị ức chế và đè nén trong tâm. Nó sẽ giúp những tư tưởng và tình cảm tiêu cực và bất thiện mà bạn chống ghét và đè nén xuất hiện rồi vĩnh viễn biến mất.
Bất cứ cái gì cũng có thể hiện lên trong ý thức. Nó có thể đẹp hay ghê tởm, thiện hay ác, hợp lý hay điên rồ. Nhưng trong khi hành thiền, những tính chất nầy không quan trọng. Bạn chỉ cần biết là ý thức đang thay đổi và biết là nó không có cái ngã biệt lập -- nó là vô ngã. Khi bạn hiểu và thấy được điều nầy đầy đủ và rõ ràng, bạn có thể dùng ý thức để giải phóng, buông xả, mở trói, thay vì cố ý tìm cách chọn lọc rồi dấu nhẹm vào tâm thức những tình cảm và tư tưởng mà bạn thích hoặc không thích.
Trong thiền minh sát, chúng ta không lựa chọn gì hết. Chúng ta để cho tất cả -- ngay cả những gì tầm thường và vô giá trị -- hiện ra trong tâm, rồi buông bỏ nó. Chúng ta thấy và biết những điều kiện nầy đơn thuần như chỉ là những điều kiện. Và vì thế, tự bản chất, thiền minh sát là một việc làm đầy bi mẫn. Chúng ta không tìm cách chiếm hữu và chấp thủ vào mỗi sự vật như thể nó là một thực thể có thật, là một con người có thật hay là một cái gì "thuộc về chúng ta". Thay vào đó, chúng ta chỉ thấy và biết mỗi sự vật như là một điều kiện sinh rồi diệt. Ngay cả nếu có những tư tưởng hay cái nhìn điên loạn, chúng ta vẫn có thể để cho chúng hiện lên trong tâm rồi quán sát thay vì đè nén hay chạy theo sự sai khiến của chúng. Ức chế hay mê lầm chạy theo những tư tưởng và tình cảm là hai thái cực; Trung Đạo theo như lời Đức Phật dạy là sự thấy biết thuần túy những điều kiện như là những điều kiện.
Cho phép mọi sự vật hiện ra có nghĩa là để cho những tư tưởng mà bạn không thích hay những nỗi lo âu sợ hãi hiện lên trong tâm. Để làm được việc này, bạn phải thành tâm nghĩ về những tư tưởng nầy. Vì thế, hãy suy nghĩ một cách có ý thức về những điều mà bạn đã giấu giếm một cách bí mật và hy vọng là người đời không một ai sẽ biết về chúng, về những gì mà bạn sợ sệt và không dám nghĩ đến. Những tình cảm bị ức chế và đè nén nầy chính là những động lực đã bí mật điều khiển cuộc đời bạn, vì thế bạn phải chủ tâm làm cho chúng hiện lên trong tâm để có thể nhận diện được chúng. Nhưng khi chúng hiện lên rồi, bạn phải lắng nghe rồi buông xả thay vì bám vào chúng và cho chúng là một cái gì đó đặc biệt khác thường. Hãy xem chúng chỉ là những điều kiện đến rồi đi trong tâm.
A Sumedho

Thiên Đỉnh Kim Ngưu

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.

Không có từ ngữ nào đánh giá
Thiên Đỉnh Kim Ngưu tốt hơn “kiên định”. Họ biết cách để phát triển điều đó. Khó khăn không thể đẩy họ ra khỏi con đường đã định nếu như họ tin rằng cứ đi tiếp thì sẽ đạt kết quả. Họ biết bản thân mình có khả năng sáng tạo tiềm tàng và sẽ đầu tư toàn tâm toàn ý vào đó. Họ thích sự nhất quán, điều này quan trọng đối vs họ và nó có vai trò như một sự bảo vệ. Những người sinh ra với Cung Thiên Đỉnh là Kim Ngưu luôn muốn mình phải cảm thấy an toàn và được bảo vệ. Điều này có thể có ý nghĩa khác nhau với từng người, nhưng một khi họ biết được điều gì khiến họ cảm thấy đc an toàn nhiều nhất, họ sẽ bám chặt lấy nó.

Những người ở Cung Thiên Đỉnh Kim Ngưu muốn là người đứng đầu, và một khi họ đã được giữ vai trò đó thì rất khó có thể từ bỏ vị trí ấy để nhường cho ng khác. Họ có tính sở hữu mạnh với vị trí của mình. Họ có vấn đề với sự ủy quyền, vì họ cảm thấy rằng bản thân có khả năng làm công việc đấy tốt hơn. Họ luôn có mong muốn kiếm đủ tiền để đáp ứng những nhu cầu của mình. Thậm chí ngay cả khi họ không có đủ thì người khác vẫn nghĩ rằng họ có.
Những công việc khả thi mà người ở Cung Thiên Đỉnh Kim Ngưu có thể cân nhắc là ngân hàng, nghệ thuật, âm nhạc, tài chính, nông nghiệp, bất động sản, kiến trúc cảnh quan hoặc đối thoại. Dù có chọn gì thì họ cũng muốn bắt tay ngay vào công việc. Một cách lý tưởng, họ muốn sáng tạo ra nhiều thứ để người khác thưởng thức [or “đánh giá cao nó”].
Mọi thứ phải thực tế và hữu hình. Nếu như họ không cần tiền thì có thể họ sẽ tìm thấy một sự thỏa mãn tương đương trong vị trí tình nguyện viên, nơi mà họ có thể thể hiện vượt trội hơn. Những người cung thiên đỉnh kim ngưu có tài năng trong việc nhìn thấy cơ hội kinh doanh.

Cung Thiên Đỉnh Kim Ngưu luôn chắc chắn về niềm tin của mình. Họ thấy không cần thiết phải áp đặt những điều họ tin tưởng lên người khác. Tuy nhiên khi họ có nghi ngờ về niềm tin của mình thì đó sẽ là một rạn nứt lớn. Niềm tin của họ thường rất cứng nhắc. Điều này giúp họ cảm thấy thoải mái và được bảo vệ về mặt cảm xúc.
Tự làm chủ là điều rất khả thi đối với Thiên Đỉnh Kim Ngưu. Họ muốn phát triển kĩ năng của bản thân và giúp đỡ người khác, mà như vậy thì cách tốt nhất chính là tự họ trở thành ông chủ. Một khi đã tìm thấy điều gì là thích hợp với mình, họ có thể bằng lòng với điều đó trong suốt quãng đời còn lại.

Thiên Đỉnh Kim Ngưu không thích sự thay đổi. Điều này đúng với cả thế giới vật chất cũng như tinh thần. Một ý tưởng có thể ăn sâu bám rễ trong họ dù có bất kì điều gì xảy ra cho tới khi tự họ cuối cùng tin rằng mình nên bỏ nó đi. Điều này cũng đúng với một công việc mà họ không hài lòng. Họ có thể lãng phí hàng năm trời với một công việc đầy bế tắc, vì họ sợ sự thay đổi, thậm chí là khi thay đổi ấy rất có thể là một lựa chọn tốt hơn. Người khác có thể thấy Thiên Đỉnh Kim Ngưu keo kiệt, đó là vị họ không bao giờ cảm thấy họ đã có đủ để được an toàn [or “đạt được sự đầy đủ ở một mức an toàn”]. Họ cần phải học rằng đôi khi nên để mọi thứ trôi qua tự nhiên để mở ra một mối quan hệ tốt.
Thiên Đỉnh Kim Ngưu có xu hướng bao bọc bản thân trong những thứ khiến họ thoải mái nhưng thật ra điều đó có thể gây ra cho họ sự không thỏa mãn. Cảm giác này khiến họ nhận thức đc rằng hiểu biết mới là lớp bảo vệ thực sự cho họ chứ không phải những thứ thoải mái kia. Họ thực sự có nhu cầu được người khác thấu hiểu.
Công việc thích hợp:Bất động sản, tài chính, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, người làm vườn, kiểm lâm, chủ ngân hàng, nhân viên kế toán, kiến trúc sư, kinh doanh khách sạn, nấu ăn, chủ nhà hàng, ca sỹ, nhà điêu khắc, thợ may, hay diễn viê