Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2008

sao mình bị gạt

Làm người hay làm việc, mình phải giữ lòng tinh tấn. Tinh nghĩa là không tạp. Tấn nghĩa là không thối lui. Tinh thì chuyên tâm nhất niệm. Làm việc gì cũng cần chuyên tâm thì mới thành. Không có hai niệm tạp nhạp thì mới tiến bộ. Kinh Dịch dạy rằng: Khi người quân tử nhìn thấy cảnh tượng này, chàng ta liền phải gấp lo thu xếp công việc, đặt định mọi chuyện để phòng bị mưa rơi, do đó kinh nói người quân tử sắp đặt, sửa sang, trước khi tai họa hoặc sự việc xảy ra. Sau đây là một câu chuyện lịch sử nói về quẻ Truân: Ðời nhà Ðường, có vị lãnh chúa tên Châu Ôn (852-912 AD) ôm ấp ý đồ muốn làm hoàng đế nên đã công nhiên chống lại chính quyền địa phương đương thời là quan tri phủ Lý Khắc Dụng (856-924 AD) và thách thức cả vua Ðường Chiêu Tông (đương triều 889-903 AD). Thời ấy, dân cư trong vùng lân cận chịu đủ thứ gian nan, nhiễu nhương vì chinh chiến, đúng là thời đại của quẻ Truân. Bây giờ có một ngôi chùa nọ đang được trùng tu. Ngài Phương trượng đốc thúc việc xây cất đột nhiên bắt các nhân công phải bí mật xây hai tường hai vách, mà giữa vách thì chất đầy lương khô. Ngài lại cố ý cho xây thật nhiều trụ để chống đở trần nhà. Vì những trụ này không mấy cần thiết, nên các vị tăng khác thấy ngài làm vậy thì chế diễu, cho rằng ngài già rồi nên lẩm cẩm, thiếu minh mẫn. Mấy tháng sau, khi chùa xây xong thì nội chiến cũng bùng phát. Lính tráng và giặc giã nổi lên khắp nơi. Thương buôn phải đình trệ. Nông gia chẳng thể tiếp tục chăm sóc ruộng vườn yên ổn được. Thành phố, thôn quê, đâu đâu cũng bị cướp bóc và đốt cháy. Dân chúng khổ sở, mất mạng nhiều vô số. Ðến khi mùa đông rét buốt tới thì củi quý như vàng, gạo đắt như ngọc. Không ai muốn bán thóc lúa, cây trái, vốn là những thứ khó kiếm vô cùng lúc bấy giờ. Kẻ giàu, phú ông, bởi vì ham tiếc không chịu đổi chác ngọc ngà, tài sản nên rốt cuộc nhiều kẻ phải chết đói. Bấy giờ, trong lúc hỗn loạn ấy, vị phương trượng truyền dạy chư tăng từ từ chẻ mấy cái trụ dư thừa kia xuống làm củi, rồi lấy bớt lương khô ra mà ăn lần lần. Tất cả chúng tăng nhờ đó mà không chết đói, chết rét. Ai cũng tán thán trí huệ thực tế, nhìn xa thấy rộng của ngài phương trượng. Ðấy chính là do ngài thấy được thế sự đang ở trong thời quẻ Truân, và ngài biết áp dụng câu: Người quân tử sắp đặt, sửa sang. Nếu hiểu quẻ Truân trên phương diện tâm linh thì: Mây đen tụ lại, giăng bủa: tượng trưng cho vọng tưởng, thành kiến, chấp trước tích tập đầy dẫy. Sấm sét chớp nhoáng: tượng trưng cho cảm giác, phiền não, tức giận, âu lo, v.v.. Khi vọng tưởng và phiền não quá nhiều thì trước sau cũng sẽ dẫn tới hành động ngu muội, không hợp lý, không hợp giới luật; hệt như khi có mây đen, sấm sét thì trước sau trời cũng sẽ mưa. Kinh Dịch dạy: người quân tử sắp đặt, sửa sang tức là dạy người tu hành khi thấy và nhận biết được vọng tưởng, chấp trước và phiền não của mình thì phải mau mau phản tỉnh, sửa đổi chính mình. Sắp đặt, tức là phải suy nghĩ cho đúng với giới luật, với lý nhân quả. Sửa sang là sửa đổi thái độ, thói quen và quan niệm. Sửa sang có mấy thứ bậc: 1. Ở bậc thấp nhất: Một khi mây đã giăng, sét đã dậy, thì ta phải giữ gìn giới luật đối với lời ăn tiếng nói, kiểm soát hành động đừng để tổn hại kẻ khác. Nho giáo dạy: Phát, nhi giai trung tiết, vị chi hòa (tâm tình bộc phát nhưng giữa cho thăng bằng, trong vòng lễ độ thì gọi là hòa), hay là giữ tâm bình khí hòa. 2. Ở bậc cao hơn một chút: Quán sát nhân quả dòng vọng tưởng để phá trừ thành kiến và chấp trước; quán sát thực chất của mối phiền não để chấm dứt nó. 3. Ở bậc cao hơn nữa: Ðừng để mây đen kéo tới, đừng để sấm sét nổi lên. Nho giáo dạy: Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát, vị chi trung (Khi vui, giận, buồn, sướng chưa phát ra thì gọi là trung). Phật dạy: Ðừng khởi tà kiến, chớ trụ tâm chấp trước, đừng sinh phiền não. Tu lòng từ bi hỉ xả. Một câu chuyện nói về quẻ Truân như sau: Có hai vợ chồng làm nghề buôn bán đã nhiều năm. Họ thường thường cứ bị những con buôn khác lường gạt hoài. Bực dọc, hai người mới lên than phiền với một vị thiền sư; họ nghĩ rằng họ đã phải làm gì bậy trong kiếp trước nên mới bị lường gạt trong kiếp này. Vị sư cười, hỏi rằng: Hãy khoan đổ thừa cho kiếp trước! Các con có bao giờ gạt ai chưa? Ngần ngừ một hồi, hai người mới nói: Dạ có, nhưng tụi con đã ngừng. Lâu lắm rồi, tụi con chẳng gạt gẫm ai. Sư hỏi tiếp: Thế con vẫn còn tính toán, tranh hơn, giành thắng? Họ đáp: Dạ, đương nhiên tụi con phải tính toán, mình phải tính lời chớ, thưa thầy. Sư hỏi: Thế con vẫn còn nói dối, nói lợi, nói đẹp cho mình? Họ đáp: Mình không tự quảng cáo thì ai mua hàng mình bán? Sư hỏi: Thế con có nói xấu, chê bai người buôn khác, chê bai hàng hóa họ bán? Họ đáp: Tụi con không nói toạc ra (rằng kẻ khác xấu) thì khách hàng cứ chạy đi mua chỗ khác, không mua hàng tụi con. Sư kết luận: Khi tâm các con tranh chấp, gạt gẫm, chê bai, giành giựt thì con sẽ chiêu cảm quả báo là những thứ lường gạt, đấu tranh. Việc làm của con tuy nói là buôn bán, thực sự chẳng khác gì chuyện đánh giặc. Làm sao con có thể yên vui, hòa bình, không bị lường gạt được. Câu chuyện trên đây cho thấy một khi trong tâm đã nuôi dưỡng quan niệm sai lầm, thành kiến, chấp trước, tranh chấp nội tại, thì quả báo đau khổ thật khó tránh. Ðức Phật tóm gọn quá trình khổ đau này trong ba giai đoạn: Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ quả báo. Khởi hoặc tức là dấy khởi tà kiến, phiền não. Tạo nghiệp tức là có hành động và lời nói sai lầm. Thọ quả báo tức là chịu đau khổ, không được như ý mình. _________________ Nhẫn một tí, gió im sóng bặt, Lùi một bước, biển lặng trời trong. Photobucket

Hòa thượng Quảng Khâm

PDF In E-mail [Hòa Thượng Quảng Khâm] Hòa Thượng Quảng Khâm Hòa-Thượng Quảng-Khâm sinh vào đời nhà Thanh, năm Quang-Tự thứ 18 (1892). Ngài họ Hoàng, tên tục là Văn-Lai, quê ở Phúc-kiến, Trung-Hoa. Gia đình Ngài rất nghèo, đến độ anh ruột Ngài không có đủ tiền để cưới vợ. Năm Ngài bốn tuổi, vì không đủ sức nuôi dưỡng Ngài, cha mẹ Ngài phải đem Ngài bán làm con nuôi cho gia đình họ Lý ở Tấn-giang. Hai ông bà họ Lý là người rất tốt, cả đời sống bằng nghề trồng trọt. Họ thương yêu Ngài như con ruột vậy. Bà Lý là người tin Phật sâu xa, suốt đời trường trai. Bà thường đem Ngài lên chùa cầu nguyện bởi từ nhỏ Ngài thường bệnh hoạn, thân thể yếu ớt. Năm Ngài chín tuổi, bà Lý qua đời; hai năm sau dưỡng phụ Ngài cũng nối gót từ trần, khiến Ngài bỗng chốc trở thành cô nhi. Bấy giờ, bà con họ hàng ai nấy đều tranh dòm, chờ chực để chiếm đất đai ruộng vườn, tài sản của gia đình họ Lý để lại. Ðiều ấy khiến Ngài, một trẻ thơ, cảm nhận sâu xa mùi vị chua chát của thói đời và tánh vô thường của mọi sự. Trong đầu Ngài nảy sinh ý niệm thoát trần: Ngài đem hết của cải đất đai nhường lại cho bà con, rồi một mình tìm tới Chùa Thừa-Thiên ở Phúc-châu xin xuất gia. Bấy giờ, phương trượng Chùa Thừa-Thiên là Hòa-Thượng Chuyển-Trần, dạy Ngài quy-y, tu Khổ-hạnh với Thầy Thụy-Phương. Ngài được phân phối cho việc lao tác, trồng rau, nhổ cỏ....; đây là những việc công quả tập sự dành cho người muốn xuất gia. Ðến năm 19 tuổi, do nhiều nhân duyên đặc biệt, Ngài đã qua Nam-Dương. Ở đây, vì không có trình độ học vấn nên Ngài phải làm việc lao động chân tay. Một hôm, nhân cùng đồng bạn lên núi đốn củi, Ngài nói với bạn về trực giác linh cảm của mình rằng chiếc xe vận tải chở củi sẽ lật ở dốc núi, nhưng không ai tin. Không lâu, chiếc xe quả nhiên bị lật thật. Ðiều này khiến bạn Ngài ngạc nhiên, bảo rằng: "Có được trực giác như vậy sao anh không chịu tu hành, phát triển tâm linh, sau này độ thế?" Nghe qua, Ngài như chợt tỉnh, liền đáp thuyền về lại Trung-Hoa. Bấy giờ Ngài đã 35 tuổi, sau gần 16 năm sống ở Nam-Dương. Về lại Chùa Thừa-Thiên, Ngài chính thức xuống tóc, lạy Hòa-Thượng Thụy-Phương làm Thầỵ Pháp-danh của Ngài là Chiếu-Kính, tự Quảng-Khâm. Sau khi xuất gia, Ngài chuyên chú tu Khổ-hạnh, ăn những thức không ai thèm ăn, làm những việc không ai chịu làm, thường luôn ngồi Thiền, một lòng niệm Phật. Có một thời gian Ngài giữ trách nhiệm Hương-đăng (thắp nhang, quét tước điện Phật) và đánh bảng thức chúng mỗi sáng. Nhiều lần Ngài ngủ say quá nên trễ nãi việc đánh bảng. Ðiều này khiến Ngài vô cùng hổ thẹn, sám hối sâu xa trong lòng, rồi từ đó lập chí ngủ ngồi. Năm 1933, sau sáu năm làm Sa-di tu Khổ-hạnh, bấy giờ Ngài mới đi cầu thọ giới Tỳ-khưu nơi Hoà-Thượng Diệu-Nghĩa, Chùa từ-Thọ, Phủ-điền. Thọ Giới rồi, Ngài liền xin phép Phương-Trượng Chuyển-Trần đi ẩn tu; lúc ấy Ngài vừa đúng 42 tuổi. Bấy giờ, một thân một mình, với ít áo quần và hơn 10 ký gạo. Ngài nhắm núi Thanh-lương, tỉnh Tuyền-châu, tiến bước. Nơi ấy, ở giữa sườn núi, Ngài tìm thấy một thạch động đủ rộng để an thân tu Ðạo. Ðộng này vốn là nơi mãnh hổ thường lui tới; thế nhưng khi gặp hổ, Ngài chẳng hãi sợ. Ngài bảo cho chúng biết ý định muốn dùng động này để tu hành và khuyên chúng hãy tìm nơi khác. Lạ thay, hổ như hiểu ý Ngài, rõ lời người. Ngài lại vì hổ mà thuyết Tam Quy-y; hổ nghe rồi vẫy đuôi đi mất. Không lâu sau, hổ ấy đem bầy hổ lại: nào hổ mẹ, hổ con... đùa giỡn, gần gũi với Ngài như gia súc vậy. Bởi thế, sau này người dân quanh đấy gọi Ngài là Phục Hổ Hòa-Thượng. Bấy giờ, Hòa-Thượng ở sơn động ngày ngày tọa Thiền, niệm Phật; chẳng bao lâu lương thực cạn sạch, Ngài bèn hái trái cây rừng để ăn. Trong núi, ngoài hổ còn có khỉ, vượn. Bọn ấy, lạ thay, thường hay đến động; chúng lại đem cả hoa quả cây trái lại cúng dường Ngài nữa! Hòa-Thượng thường hay nhập Ðịnh. Có lần Ngài nhập Ðịnh đến vài tháng, không ăn uống, không động đậy thân thể; thậm chí hơi thở dường như dứt tuyệt. Có người gần đấy thấy vậy thì lầm tưởng rằng Ngài đã viên tịch, nên tức tốc cấp báo với Hòa-Thượng Chuyển-Trần để lo việc hỏa táng. May thay, lúc ấy có vị cao-tăng là Ðại-Sư Hoằng-Nhất đang ở chùa gần đấy, nghe được tin trên bèn cùng Hòa-Thượng Chuyển-Trần lên núi xem hư thực. Tới nơi, Ðại-Sư Hoằng-Nhất biết Ngài đang nhập Ðịnh, liền gõ ba tiếng khánh, đánh thức Ngài dậy từ trạng thái Thiền-định. Tin Ngài nhập Ðịnh lan truyền khắp nơi khiến ai ai cũng tán thán. Tháng ngày qua như tên bắn, thấm thoát Hòa-Thượng đã ở trên núi Thanh-lương được 13 năm. Bấy giờ Ngài, đã 54 tuổi (1945), trở về Chùa Thừa-Thiên. Hai năm sau, 1947, Ngài rời Ðại-lục, đáp thuyền tới Ðài-loan. Ở đây, bắt đầu quãng đời hoằng Pháp của Ngài: - 1948, Ngài xây một ngôi chùa nhỏ ở Ðài-bắc, tên là Quảng-Minh Tự. - 1951, xây Quảng-Chiếu Tự. - 1952, Ngài tìm thấy một thạch động ở núi Thành-phước rất đặc biệt: khi mặt trời và mặt trăng mới mọc thì ánh sáng chiếu thẳng vào cửa động. Bởi thế, Ngài đặt tên là Nhật-Nguyệt Ðộng và quyết định ở đấy ẩn tu. Nơi ấy xưa nay vốn không có nước, song từ khi Ngài vào ở bỗng có một suối nước mát tự nhiên vọt lên kế bên. Trên đỉnh núi ấy, Ngài dựng một chòi tranh để ở. Một đêm nọ, có con trăn khổng lồ bò lại chòi tranh cầu Pháp; Ngài liền vì nó thuyết Pháp và truyền Tam Quy-y. - 1955, tín đồ ở Ðài-bắc cúng dường Ngài một cuộc đất do hỏa sơn tạo nên; Ngài bèn xây Thừa-Thiên Tự ở đó. - 1963, Ngài hưng kiến Tường-Ðức Tự; xây Quảng-Long Tự ở núi Long-tỉnh. Ðến năm 1964, Ngài đã ở Ðài-loan được 17 năm. Trong suốt thời gian ấy, Ngài đã nhập định ba lần và mỗi lần lâu hơn cả tháng. Hằng ngày, Ngài chỉ ăn một bữa và chỉ ăn trái cây; Ngài không ăn đồ nấu nướng hay chiên xào gì cả. Vì vậy, tín đồ gọi Ngài là Thủy-Quả Hòa-thượng - Ông Thầy Ăn Trái Cây - Trừ khi trời mưa, thường thì mỗi đêm Ngài đều ngồi tọa Thiền cho tới sáng ở ngoài vườn hay trong rừng, chứ không ngủ trong phòng như kẻ khác. Ðấy là những công hạnh đặc biệt của Ngài. Năm Ngài 80 tuổi, có lần Ngài biểu thị cho Ðại-chúng biết ý định "Xả Báo" - nhập Ðịnh - của Ngài. Lúc ấy các đệ tử vô cùng khẩn thiết, cầu xin Ngài tiếp tục từ bi trụ thế. Bấy giờ Ngài vì tùy thuận chúng sanh nên trì hoãn việc nhập Ðịnh, tiếp tục công cuộc độ sinh. Từ ấy Ngài đi Nam-đầu, Ðài-trung, Gia-nghĩa, Hoa-liên, v.v... hoằng Pháp độ chúng. Ðến năm 84 tuổi, Ngài bắt đầu cấm túc, ở luôn tại chùa Thừa-Thiên trên núi Thanh-lương không còn xuống núi nữa. Công cuộc xây chùa vẫn tiếp tục, song do các đại đệ tử của Ngài chủ động: trùng tu Chùa Thừa-Thiên, xây Quảng-Thừa Nham (1974), Diệu-Thông Tự (1982). Năm Ngài 94 tuổi (1985), Ngài chủ trì Tam Ðàn Ðại Giới, truyền giới cho hơn 2.500 vị Tăng, Ni và cư sĩ; tạo thành một Pháp-Hội trang nghiêm vĩ đại nhất ở Ðài-loan lúc bấy giờ. Bấy giờ tuy đã gần kề trăm tuổi, Ngài vẫn sống rất đơn giản, đạm bạc; lời nói của Ngài bình dị, khiêm nhường; bước đi của Ngài vẫn vững chãi, không cần dùng tới gậy chống, không nhờ người đỡ taỵ Nếu ai gặp Ngài lúc ấy sẽ thấy thân Ngài vô cùng nhẹ nhàng, linh hoạt; động tác thanh thoát. Ngài vẫn y nhiên ngủ ngồi, không nằm; và vẫn ngồi ngoài vườn lộ thiên tĩnh tọa mỗi đêm. Bấy giờ thức ăn trái cây của Ngài phải được nghiền thành chất lỏng để dễ ăn. Cuối năm 1985, Ngài trở về Chùa Thừa-Thiên. Ngài thị hiện có bệnh; cự tuyệt mọi thứ ẩm thực, thuốc men; cũng không tiếp kiến tín đồ. Ngày Tết Nguyên-đán năm ấy, 1986, Ngài triệu tập tất cả đệ tử ở các chùa và tu viện khắp nơi lại để phú chúc, phân phối hậu sự. Ngài chỉ bảo việc hỏa táng, phân chia linh cốt tại Thừa-Thiên Tự, Quảng-Thừa Nham, và Diệu-Thông Tự, đồng thời trả lời mọi nghi vấn của tín chúng. Sáng ấy, sau giờ thọ trai, Ngài quyết định xuống Diệu-Thông Tự ở Cao-hùng. Hôm sau, mồng hai Tết, khí lực của Ngài vô cùng suy nhược. Mồng ba Tết, thể lực của Ngài bình phục. Ngài cùng đại chúng lên điện niệm Phật. Ngài lại nói chuyện một cách thong dong tự tại với các tín đồ đệ tử; tinh thần vô cùng sáng suốt và lạc quan như không có chuyện gì xảy ra. Sáng mồng bốn Tết, Ngài gọi tất cả đệ tử cùng Ngài ra bên ngoài điện đón nắng. Ngài nói với một đệ tử, Thầy Truyền-Văn, rằng: "Ngươi được rồi đấy; song bọn họ - đại chúng - còn chưa xong đâu!" Mồng năm Tết (ngày 13 tháng 2 năm 1986), Ngài ngồi xếp bằng yên định, tinh thần hòa hoãn, chẳng chút xao động; rồi dạy các đệ tử đồng thanh niệm Phật. Vào hai giờ chiều hôm ấy, Ngài bảo đại-chúng: "Vô lai vô khứ, một hữu sự!" (chẳng đến chẳng đi, chẳng việc gì); rồi nhìn đại-chúng gật đầu, mỉm cười. Không lâu sau, đại chúng thấy Ngài ngồi yên bất động liền đến bên quan sát kỹ, mới hay Ngài đã an nhiên theo tiếng niệm Phật, viên tịch rồi. Nhìn lại cả đời Ngài, xuất thân tuy nghèo khổ song bản tánh tự an, ngay thật, bình dị; đến khi xuất gia, Ngài thật sự buông bỏ vạn sự, chân thành ẩn tu, thực hành đủ thứ khổ-hạnh gian khó. Bởi nhân địa chân thật như vậy, nên kết quả là cảm ứng bất khả tư nghị - sau khi xuống núi, tới Ðài-loan hoằng dương Phật Pháp, Ngài đã tiếp độ không biết bao nhiêu chúng sanh, từ người đến thú, từ dương giới đến âm giới, từ hữu tình đến vô tình... Và, nhất là sự viên-tịch vô cùng tự do tự tại của Ngài - một minh chứng hùng hồn nhất về sự diệu kỳ của Phật Pháp, cũng như về khả năng thành tựu sự giải thoát, đạt Ðạo của những bậc chân tu, thật hành. Thầm nguyện Hòa-Thượng sẽ không xả bỏ đại nguyện, tiếp tục chèo thuyền từ bi trở lại cõi này để không ngừng đưa lớp lớp chúng sanh tới bờ bên kia, đến nơi an ổn, vô úy, vô ưu não! Theo: Cẩm Nang Tu Đạo

Nguyên Bảo

Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket

Thứ Ba, 16 tháng 9, 2008

Nghệ thuật sống (15)

Lời thiện tri thức như nắng trời xuân Sanh trưởng tất cả căn mầm thiện pháp Lời thiện tri thức như ánh trăng rằm Vật gì được chiếu đều được thanh lương Lời thiện tri thức như núi tuyết hè Làm vơi cầm thú khát khao nỗi niềm Lời thiện tri thức: nắng dọi ao thơm Nở khai tất cả hoa sen tâm lành. Kinh Hoa Nghiêm Con đường Tu Hành [b]Tu hành là làm việc vô sự; chẳng nên có lòng tham, chẳng nên nghĩ tôi phải thế này, thế nọ, như: "Tôi muốn khai ngộ. Tôi muốn đắc thần-thông..." Làm sao có thể lẹ như vậy chứ? Khi hạt nhân được trồng xuống đất, bạn phải chờ nó lớn lên từ từ. Khi đến thời điểm, tự nhiên nó chín muồi![/b] Phải xem chuyện [b]tu hành là bổn phận cá nhân. Không cần phải tham lam, dần dần, công đức tự nhiên sẽ viên mãn, quả Bồ-đề cũng sẽ thành tựu.[/b] Chuyện tu hành đáng lẽ thành công rồi; song, vì bạn tham lam nhiều thứ cho nên kết quả là không "tiêu hóa" được. Ăn cơm thì phải đút từng miếng một vô miệng; nếu đem cả tô cơm mà dồn hết vô miệng, thì đầy cứng, làm sao nhai được? Nhai không đặng mà nuốt cũng chẳng xong[b]! Ăn cơm là một thí dụ hết sức đơn giản để nói lên vấn đề "tham nhiều thì nhai không nổi" vậy![/b] Người tu Ðạo, trước tiên phải đừng ích kỷ. Như vậy, chẳng những bảo vệ chính mình mà còn lợi ích cho toàn thế giới. [b]Hãy gạt bỏ chính mình ra ngoài, vất đi. Ðừng nghĩ rằng: "Tôi hay, tôi giỏi như thế này, thế nọ..."; mà phải nhìn toàn bộ đại cuộc. [/b] Kẻ tu Ðạo lúc nào cũng[b] phải treo giữa đôi mày "câu hỏi sanh tử." Lúc nào cũng phải muốn được liễu sanh thoát tử. [/b] Mỗi cử chỉ, mỗi hành động của [b]chúng sanh trong cõi Ta-bà đều là tham, sân, si. [/b] Ðối với Pháp Thế-gian, chúng sanh dùng tâm "tham, sân, si" để hành sự. Ðến khi tu, hành Pháp Xuất Thế-gian thì chúng sanh lại cũng [b]dùng tâm "tham, sân, si" này để tu. Khi tu, thì cứ tham khai ngộ mới ngồi Thiền chỉ có hai ngày rưỡi đã muốn ngộ rồi, tu hành chưa tới ba ngày là đã muốn thần-thông, niệm Phật mới mấy bữa mà đã muốn đắc Niệm Phật Tam-muội! Các bạn xem, đúng là "lòng tham không đáy" ớđó đều là biểu hiện của quỷ tham lam![/b] Tu Ðạo mà chẳng biết sửa đổi lỗi lầm thì cũng như chẳng tu. Học Phật mà không biết lỗi, không chừa tội thì chẳng khác gì không học Phật! Có câu rằng: Tu hành nay tuổi năm mươi, Mới hay bốn chín năm qua đều lầm! Những[b] ai có cảm giác hoặc nhận biết được các chuyện sai lầm, tội lỗi mà họ đã gây khi xưa, đều là những người có trí huệ; tương lai họ sẽ có tiền đồ sáng sủa vô biên. [/b] Người nào chẳng biết được những điều sai trái mình đã phạm trước kia, thì người ấy sẽ chỉ hồ đồ, mê muội suốt đời. Cứ mưu đồ hư danh giả dối thì suốt đời sẽ bị "bụi trần" làm cho mê hoặc, mờ mịt. Những kẻ như vậy thật đáng thương thay! Người xuất gia tu Ðạo cần phải phát nguyện.[b] Phát nguyện là tinh tấn tu Ðạo. Phát nguyện là cảnh giác chính mình sửa đổi lỗi lầm, hướng về việc lành. Tu Ðạo mà không phát nguyện thì cũng như cây đơm hoa mà chẳng kết trái vậy! [/b] Nếu đã [b]phát nguyện rồi thì tốt nhất là hằng ngày phải đọc lại những lời nguyện ấy, bởi "ôn cố nhi tri tân" ôn chuyện cũ thì sẽ hiểu chuyện mới. Phải xem mình có nhớ là chính mình đã từng phát nguyện gì, cần phải làm những việc gì hay chăng.[/b] Như vậy thì nguyện đã phát mới không trở thành trống rỗng, mà mình cũng chẳng lừa dối mình và lừa dối người, và cũng chẳng quên mất những nguyện mình đã lập. Ðôi khi các bạn nghĩ rằng mình làm chuyện tốt, kỳ thật, không nhất định là tốt. Vì sao? Vì nhân trồng không thanh tịnh![b] Hễ bạn dùng lòng tham lam mà làm việc, thì đó gọi là "trồng nhân bất tịnh." Bạn dùng tâm háo thắng mà làm việc, thì đó cũng là "trồng nhân bất tịnh." [/b] Vậy thì phải làm sao? [b]Phải làm chuyện vô sự ! Làm việc gì cũng phải coi đó là bổn phận của mình, chẳng nên hướng tâm ra ngoài mà truy cầu, chẳng nên cầu cạnh, mong mỏi gì cả![/b] Ðã có vọng tưởng, phải làm sao bây giờ? Quét sạch chúng đi! Bằng cách nào? Dùng Thiền Ðịnh! Công phu của Thiền Ðịnh có thể quét sạch vọng-tưởng. Khi [b]tu Thiền-Ðịnh, phải dùng tinh-tấn, nhẫn-nhục lại trợ giúp. Sau đó lại phải bố-thí, trì Giới. Như vậy thì công việc sẽ được hoàn thành.[/b] Sau khi sám hối, phải lập thệ nguyện: [b]Tất cả mọi sự khi xưa, Xem như đã chết theo ngày hôm qua. Mọi sự từ đây về sau, Bắt đầu cuộc sống của ngày hôm nay.[/b] Về [b]sau tuyệt đối không tái phạm, như thế mới tiêu trừ hết nghiệp chướng.[/b] Trong lúc tu hành phải luôn nghĩ đến vấn đề sanh, tử, và xem tất cả ma quái là các vị Hộ Pháp đến giúp ta tu Ðạo.[b] Có người chửi rủa, đánh đập ta họ chính là giúp ta tu Ðạo. Có người nói chuyện thị phi về ta, gây rắc rối cho ta đó cũng là giúp ta tu Ðạo. [/b] Nói tóm lại, điều[b] nghịch ý đến thì hãy thuận theo nó mà nhẫn chịu. Hãy xem nó như là bạn tốt lại giúp ta tu Ðạo; như vậy thì sẽ không có phiền não. Không có phiền não thì trí huệ sẽ nảy sanh. Hễ có được trí huệ chân chánh, thì bấy giờ không ma quái nào có thể làm tâm ta giao động đặng.[/b] Người tu Ðạo phải thanh tịnh, trong sạch như con mắt vậy.[b] Mắt không thể dung chứa một hạt cát nào cả. Bởi hễ trong mắt mà có cát, ắt bạn sẽ cảm thấy xốn xang, khó chịu, quyết phải tìm cách lấy nó ra, nếu không thì thân tâm chẳng an ổn đặng. [/b]Việc tu hành cũng y như thế! "Hạt cát" ám chỉ cái gì? [b]Chính là tâm tham. Hễ có tâm tham thì mọi việc đều biến đổi. Xưa nay mình vốn thanh tịnh; song, khi ý niệm tham lam dấy khởi, thì tác dụng hóa-học lập tức phát sinh, nước trong vắt trở thành vẩn đục.[/b] Bấy giờ, nước ấy chẳng làm lợi cho ai, chỉ làm hại chính mình thôi! Chúng ta tu Ðạo, mục đích chủ yếu là để "liễu thoát sanh tử," chứ chẳng phải để cầu cảm ứng. Các bạn hãy nhớ lấy! Chẳng thể tu hành với mưu đồ tính toán hoặc cầu thành tựu, cầu cảm ứng bởi như vậy là lầm lẫn lớn! Người xưa học là để "minh lý" hiểu rõ đạo làm người, biết thế nào là lánh ác, làm lành, và học điều hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Người đời nay học là để có được "danh lợi." Tiếng Trung Hoa, chữ minh lý (ẹú ỗz) và danh lợi (ẩW ậQ) phát âm giống nhau (ming li); song le, về mặt thực hành thì hai thứ hai nẻo, cách biệt nhau tới mười vạn tám ngàn dặm! Người học vì danh vì lợi thì chỉ muốn học ngành gì mà có thể kiếm được thật nhiều tiền, như y-khoa, khoa-học, v.v..., và chẳng hề nghĩ rằng: "Tôi phải học để trong tương lai có thể đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Tôi muốn học nghề thầy thuốc để cứu người, giúp đời, tự lợi, lợi tha." Tánh nhẫn nhục vô cùng quan trọng.[b] Nhẫn nhục tức là bạn nhẫn nại chịu đựng những chuyện bạn không muốn. Thí dụ bạn không muốn bị ai chửi mắng; song, nếu có kẻ chửi mắng bạn thì bạn vẫn vui vẻ. Bạn không thích bị ai đánh; song, nếu có kẻ đánh bạn thì bạn càng phải hoan hỷ. Bạn không muốn bị giết hại vì sinh mạng là quý giá nhất; song, nếu có kẻ giết bạn, thì lúc đó, bạn phải thấy kẻ ấy chân chánh là bậc Thiện-Tri-Thức của bạn, vì y đã kết liễu giùm nghiệp-chướng của đời bạn! [/b] Thế nên, các bạn à! [b]Học Phật pháp cần phải đảo ngược lại mà học. Tu đạo cũng phải đảo ngược lại mà tu. Thế nào là "đảo ngược lại?" Tức là chuyện mà bạn không thích, thì bạn cần phải thích nó. Chẳng phải là chuyện gì bạn không thích thì bạn trút lên đầu kẻ khác![/b] Phương pháp tu hành chân thật nhất nằm trong ba bí quyết: [b]1. Chân: chân thật, không giả dối; làm việc gì cũng phải chân thật. 2. Thành: thành khẩn, thiết tha cung kính, không lười biếng, không cẩu thả. 3. Hằng: hằng thường, bền bỉ, không biến đổi.[/b] Phàm[b] mỗi việc làm, mỗi lời nói, mỗi hành động, đều phải hội đủ ba tâm Chân, Thành, Hằng. Làm bất kỳ công việc gì cũng đều phải có ba tâm này. Như vậy thì tương lai nhất định sẽ thành tựu.[/b] Nên làm nhiều công-đức. [b]Phàm việc gì có lợi ích cho chúng sanh thì hãy tận lực mà làm đó gọi là tu phước. Ðọc tụng kinh điển, nghiên cứu kinh điểnớthâm nhập kinh tạng, trí huệ như hảiớgọi là tu huệ. [/b] Phước và huệ là do tài bồi, tích tập mà có. Nếu chẳng vun bồi thì thủy chung vẫn không có được phước, huệ. Người tu Ðạo sợ nhất là có phiền não, nên nói:   Phiền não vô biên, thệ nguyện đoạn. "Ðoạn trừ phiền-não" là công việc vô cùng cấp bách đối với người tu. [b]Do đó, kẻ có Ðịnh-lực thì gặp bất kỳ cảnh giới gì cũng chẳng sinh phiền-não.[/b] [b]Không có phiền-não thì lòng tư dục sẽ ít đi. Lòng tư dục bắt nguồn từ phiền-não, sinh sản vô-minh; rồi tiếp theo đó là bệnh hoạn phát sinh.[/b] "Không có phiền-não" chẳng có nghĩa là không ai tới phiền nhiễu bạn, mà là tự trong lòng bạn không hề phiền-não.[b] Cho dù có kẻ lại quấy nhiễu, chửi rủa, đánh đập bạn, mà bạn vẫn không sinh phiền-não, thì bạn mới thật sự là có Ðịnh-lực.[/b] [b]Căn bản của Giới Luật chỉ có một điều Không ích-kỷ. Người có lòng ích-kỷ mới phạm Giới. Nếu không có lòng ích-kỷ thì không thể phạm Giới.[/b] Cũng vậy, con người vì có lòng ích-kỷ nên mới phạm pháp. Hễ không có lòng ích-kỷ thì sẽ không phạm pháp! [b]Giới Luật là sanh mạng của người tu Ðạo. Kẻ phạm Giới thì cũng thật thảm thương giống như là sanh mạng y bị cắt đứt vậy! [/b] Khi Ðức Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn, Ngài dạy Tôn-giả A-Nan: [b]"Hãy lấy Giới làm Thầy!" Ðiều này chứng tỏ tính cách trọng yếu của Giới Luật.[/b] [b]Ða số người đời cho rằng mệnh vận thì đã được an bài: Mệnh là tám thốn, Khó cầu một trượng! Không sai! Song le, điều đó chỉ đúng với những kẻ bình thường, chẳng tu hành; người tu Ðạo thì không thuộc vào số phận đó.[/b] Người tu Ðạo [b]chẳng nên xem Kinh Dịch, coi bói toán, bởi đó thuộc về kẻ tục, người đời. Người tu Ðạo có thể dứt được sanh tử, hà huống những thứ số mạng, bói toán? Cho nên, người tu Ðạo cần phải vượt ra ngoài những thứ đó không cần phải hiểu biết các môn đó![/b]   Phát Nguyện Học Phật Thế nào là "Phật Pháp?" [b]Phật Pháp tức là Thế Gian Pháp, nhưng là thứ pháp mà người đời không muốn thực hành. Người đời suốt ngày bận rộn, lo lắng, bôn ba; nếu nguyên do chẳng phải là do lòng ích kỷ thì cũng vì muốn bảo toàn sanh mạng, tài sản, cuộc sống cá nhân. [/b] Phật Pháp không vì ích kỷ riêng tư, mà hoàn toàn vì công ích, vì lợi lạc của thế nhân. Vì vậy, kẻ học Phật Pháp[b] phàm làm gì, nói gì cũng nên vì người khác. Phải coi nhẹ chính mình, sẵn sàng xả thân vì người khác, và không gây phiền-não, khổ đau cho kẻ khác.[/b] Ðó chính là Phật Pháp vậy. Vì sao Phật muốn độ chúng sanh? Vì Ngài thấy rằng:[b] "Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta." Bởi "cha mẹ" của Ngài đang ở trong sáu nẻo luân hồi chịu khổ đau; do đó, bất luận thế nào Ngài cũng phải cứu độ chúng sanh, hy vọng rằng "cha mẹ"[/b] của Ngài sẽ được xa lìa khổ não, được hưởng sự an vui! Ðức Phật có đại trí huệ; chúng ta có đại ngu si. Do đó, chúng ta phải học Phật, học trí-huệ của Ngài. Chúng ta phải[b] lấy tâm Phật làm tâm mình, lấy nguyện của Phật làm nguyện của mình; lúc nào cũng thực tập Từ, Bi, Hỷ, Xảớ bốn thứ tâm thái không bến bờ; lúc nào cũng phải tu tập Pháp Môn "Nan nhẫn năng nhẫn, nan hành năng hành," điều khó nhẫn mình có thể nhẫn, việc khó làm hay không ai muốn làm thì mình có thể làm. [/b]   Học Phật thì chẳng nên học những thứ cao siêu, thâm áo, vì: [b]Tâm bình thường là Ðạo, Tâm thẳng thắn là chùa. Cho nên, mọi người hãy dùng lòng ngay thẳng mà tu hành![/b] Người học Phật phải làm thế nào để đạo Phật ngày một rạng rỡ; chớ để cho Ðạo ngày một hủ bại. Làm sao để khiến Ðạo Pháp thêm huy hoàng? Trước hết,[b] hãy nuôi dưỡng, vun bồi một phẩm cách cao thượng, tốt đẹp. Khi nền móng vững vàng thì lầu cao mới không sụp đổ; do đó, mọi kiến trúc cao vọi đều được dựng lên từ nơi nền móng kiên cố. Ðối với chuyện tu dưỡng, nếu chúng ta muốn xây đắp một nền tảng chắc thực thì trước hết phải vun bồi phẩm cách, tập tành đạo đức.[/b] Bất luận là[b] Ðại Thừa, Tiểu Thừa, hay Phật Thừa, thừa nào đầu tiên cũng dạy chúng ta phải trừ khử thói hư tật xấu, lỗi lầm sai quấy, dứt bỏ vô-minh, phiền não, tham, sân, si. [/b] Nếu bạn có thể[b] quét sạch mọi thói hư tật xấu thì tự nhiên sẽ tương ưng với nghĩa lý kinh điển. Tật hư, lầm lỗi không trừ, thì bạn chẳng bao giờ có thể thấu hiểu được nghĩa lý trong kinh! [/b] Các bạn hãy dùng chân-tâm mà niệm Phật. [b]Niệm một tiếng Phật thì trong hư không sinh ra một đạo hào-quang. Nếu bạn khẩn thiết, chí tâm niệm Phật, thì đạo hào-quang này sẽ chiếu khắp Tam-thiên thế giới, khiến cho không khí trong ba ngàn Ðại-thiên thế giới trở nên kiết tường, bao nhiêu thứ không khí ô nhiễm, độc địa, tai ương đều biến đổi hết. [/b] Hằng ngày chúng ta niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát; song, "Quán Thế Âm" nghĩa là gì? [b]"Quán Thế Âm" tức là quán xét các âm thanh ở cõi thế gian. Quán cũng có nghĩa là nhìn, song không phải nhìn bên ngoài, mà là nhìn vào tâm của chúng sanh.[/b] Khi chúng ta niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát thì không nên cúi đầu xuống mà niệm. Phải ngẩng đầu lên để biểu thị tinh thần dũng mãnh, tinh tấn; không nên có vẻ ủ rủ, hết hơi, hết sức. Nếu bạn muốn học Phật Pháp, bạn nhất định cần phải[b] tinh tấn, dũng mãnh, giống như con cọp từ núi cao xồng xộc lao xuống, nhai nuốt nghiệp chướng của mình! [/b] Nhớ lấy! Nhớ lấy! Người mới bắt đầu học Phật[b] nhất định phải tu Hạnh Nhẫn Nhục. Dù cho có người thật sự muốn giết bạn, bạn cũng tuyệt nhiên chớ sanh lòng sân hận! [/b] Người học Phật cần phải: [b]"Nhận thật mình là sai, Ðừng trách cứ lỗi người. Lỗi người là lỗi mình, Ðồng thể mới Ðại Bi!"[/b] Người học Phật [b]phải tự hỏi mình: "Tôi bố-thí là cầu danh vọng hay thật tâm muốn giúp kẻ khác? Tôi trì Giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tập Thiền-Ðịnh, tu trí huệ... là để cho người ta xem, hay vì tôi thật sự muốn tu hành?" [/b] Tu Ðạo không phải là đeo mặt nạ, [b]giả dối đóng kịch, làm điệu bộ để cho người khác xem. Tu Ðạo là hoàn toàn dựa vào công phu nội tại của chính mình. Ðổ hơi sức ra làm, dụng công một chút thì thu hoạch được một chút. Dùng một phần thành tâm thì được một phần cảm ứng. Tất cả đều phải chân thật, không giả dối. Chớ tự lừa mình, lừa người![/b] Kẻ học Phật cần phải chịu thua lỗ, thiệt thòi. Ðại Sư Vĩnh-Gia Huyền-Giác có câu: [b]"Quán lời ác, là công đức, Thầy lành của ta là kẻ ấy! Chẳng vì chửi mắng sanh thương, ghét, Sao tỏ Vô-Sanh Từ Nhẫn Lực?" Có người chửi mắng bạn, đó là giúp bạn trở thành tốt hơn;[/b] bạn cần phải: [b]Nghịch hay thuận, đều tinh tấn, Chê hay khen, chẳng động tâm![/b] Ðừng nên vì[b] bị chế nhạo, nhục mạ mà sanh lòng oán hận. Phải coi kẻ oán ghét và người thân yêu đều như nhau, và dùng lòng nhân ái mà đối xử với họ; nếu không vậy thì làm sao thể hiện được sức mạnh từ-bi phát xuất từ Vô-Sanh Pháp Nhẫn[/b]? 6 Vì sao dụng công mà chẳng đạt đến chỗ tương ưng? Là vì những [b]tập khí, thói quen từ vô lượng kiếp để lại quá sâu đậm. Do đó, lòng tuy muốn hướng về Bồ-đề, song, sự thật thì chẳng chịu tiến bước tới trước, cứ muốn thụt lùi. Phải biết bởi thói quen quá nặng, nghiệp chướng lại cũng sâu dày, nên mình càng cần phải vất bỏ vọng tưởng. Vất bỏ vọng tưởng không khóớchỉ cần quên bẵng chính mình đi, thì vọng tưởng sẽ chẳng còn! [/b] Người tu Pháp Môn Niệm Phật,[b] ở mọi thời mọi nơi phải niệm không gián đoạn, không ngừng nghỉ sáu chữ "Nam mô A Di Ðà Phật." Lúc thức cũng niệm, lúc ngủ cũng niệm. Phải niệm sáu chữ hồng danh "Nam mô A Di Ðà Phật" làm sao mà kéo cắt không đứt, bẻ chẳng gãy, kiếm chém không rời. Phải dùng sức kiên cố như kim cương mà niệm. [/b] Nếu bạn không có cách gì phá hoại nổi chuổi hồng danh "Nam mô A Di Ðà Phật" thì đó mới gọi là thực hành phép Niệm Phật Tam-Muội. [b]Niệm Phật thì như vậy, tụng Kinh và trì Chú cũng phải giống như thế.[/b] Khi Phật còn tại thế, có lần Ngài bốc một nắm đất, rồi hỏi chư đệ tử: "Các con nói xem, đất trong lòng bàn tay Ta nhiều hay đất trên mặt đất này nhiều?" Ðệ tử thưa: "Ðương nhiên là đất trên mặt đất nhiều, còn đất trong tay Thế Tôn thì quá ít ỏi." Ðức Phật liền nói: "Ðắc nhân thân giả, Như chưởng trung thổ. Thất nhân thân giả, Như đại địa thổ." Nghĩa là:[b] "Những kẻ được thân người thì ít như nắm đất trong tay Ta; còn những kẻ mất thân người thì nhiều như đất trên mặt đất vậy." [/b] Những ai mất thân người, đọa lạc trong đường ác, quả thật nhiều như đất trên mặt đất vậy! Thiền Tông là pháp môn "chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật" và cũng chính là Ðốn Giáo. Ðốn Giáo là do siêng năng tu hành Tiệm Giáo mà raớlý tuy đốn ngộ, sự cần tiệm tu.7 Hiện giờ, chúng ta đi, đứng, nằm, ngồi, đều thuộc về tiệm tu. Chờ đến một ngày nào đó, khi bạn chân chánh sáng tỏ, thì sẽ hoát nhiên khai ngộ; lúc đó gọi là đốn ngộ. Ðốn không tách rời tiệm. Tiệm vốn trợ giúp đốn. Những kẻ [b]tu hành hễ tu pháp gì thì cho pháp đó là hay nhất; vì nếu không hay nhất thì họ không vui vẻ, không chịu tu pháp đó! Nếu các bạn thật sự hiểu được rằng "tất cả các pháp đều là Phật Pháp, tất cả đều không thể nắm bắt được," thì sẽ nhận thấy rằng chẳng có thứ gì để mà chấp trước vào cả.[/b] Ðốn ngộ là do bình thường dụng công mà ra. [b]Khi công phu đạt đến chỗ tương ưng thì bạn hoát nhiên khai ngộ. Nếu bình thường không dụng công, thì bạn chẳng thể nào đốn ngộ được[/b]. Giống như con nít sau khi chào đời thì được huân tập hằng ngày (thâu thập dữ kiện về ngôn ngữ), và đến một lúc nào đó nó sẽ bập bẹ nói thành tiếng; khi nó thốt ra được câu đầu tiên, thì cũng giống như được "khai ngộ."[b] Rồi đến một lúc nào đó, nó sẽ chập chững biết đi; và khi nó đi được bước đầu tiên thì cũng tương tự như được "khai ngộ" vậy. Vì sao đứa bé có thể đi được bước đầu tiên ấy? Nhờ ngày ngày nhìn người lớn đi đứng, nó huân tập những dữ kiện ấy, do đó mà tự nhiên biết đi.[/b] Chúng ta dụng công tu hành cũng vậyớngày nay dụng công, ngày mai dụng công, dụng tới dụng lui cho tới khi công phu chín muồi thì tự nhiên chẳng sanh vọng niệm. Khi vọng tưởng tiêu mất, thì sẽ được khai ngộ! Lỗi lầm mà chúng ta thường phạm phải là [b]thích được kẻ khác khen ngợi, tâng bốc. Nếu có kẻ khen mình một tiếng, thì liền có cảm giác lâng lâng, bay bổng. Mê muội như thế thì làm sao thành Phật? Chính mình mà mình còn không rõ biết, cứ mập mờ![/b] Nếu bạn có thể [b]trì Giới, tu Ðịnh, khai trí Huệ, thì bạn sẽ chẳng động tâm khi bị chửi mắng hay được khen ngợi. Ai nguyền rủa bạn, lòng bạn chẳng hề tức tối; ai khen ngợi bạn, lòng bạn cũng chẳng chút vui thích! Thật ra, chửi hay khen chỉ là một thứ "gió" của thế gian.[/b] Có câu rằng: "Bát phong xuy bất động." Nghĩa là không bị tám thứ "gió" làm giao động. [b]Tám thứ "gió" ấy là gì? Ðó là tâng bốc (xưng), chê cười (ky), đau đớn (khổ), vui sướng (lạc), lợi lộc (lợi), suy vi (suy), chửi mắng (hủy), và khen ngợi (dự).[/b] [b]Nếu bạn để tám thứ "gió" này làm cho tâm trí giao động, tức là nền tảng của bạn chưa được vững vàng. Nền tảng của con người là gì? Là đức hạnh! [/b] [b]Người không đủ đức hạnh thì lòng nóng giận sẽ lớn lắm, vô minh cũng rất nặng nề. Nếu có đức hạnh thì lòng nóng giận sẽ tiêu tan, vô minh sẽ biến thành trí huệ. Do đó, chúng ta tu hành thì cần phải vun bồi đức hạnh.[/b] Người nào có thể [b]hàng phục Sáu Căn, Sáu Trần, Sáu Thức,8 khiến chúng không nhiễu loạn, thì người đó là Bồ-tát. Người nào có thể quét sạch tình cảm, chẳng còn dơ bẩn, thì người đó là Bồ-tát. Bồ-tát thì không khóc, cũng chẳng cười. Ở mọi nơi, mọi lúc, Bồ-tát đều tự tại, chẳng câu thúc, chẳng bó buộc, vô quái vô ngại, chẳng phiền chẳng não, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm. Người học Phật phải ở nơi chỗ này mà dụng công. [/b] Chúng ta phải tạo Thế Giới Cực Lạc. Làm sao tạo? Ðầu tiên, [b]phải dẹp bỏ thất tình. Thất tình là gì? Ðó là bảy thứ tình cảm vui vẻ (hỷ), giận dữ (nộ), buồn rầu (ai), sợ hãi (cụ), yêu thương (ái), ghét bỏ (ác), và dục vọng (dục). [/b] Chúng ta phải điều phục bảy thứ tình cảm này, khiến chúng không thể nhiễu loạn nữa. Lúc đó, tâm chúng ta sẽ bình an vô sự, mọi thống khổ đều tiêu tan. Vì sao chúng ta bị thống khổ? Vì tâm ta chẳng bình an! Nếu chúng ta chỉ có an lạc, chẳng còn khổ não, thì cái nhân gian này chính là Thế Giới Cực Lạc vậy. Khi bạn[b] niệm Phật thì tương tự như bạn gởi điện tín lên Thế Giới Cực Lạc niệm một câu tức là gởi đi một bức điện tín, niệm hai câu là gởi đi hai bức điện tín ngày ngày niệm Phật là ngày ngày gởi điện tín tới Phật A Di Ðà. [/b] Ở Thế Giới Cực Lạc , Ðức phật A Di Ðà cũng có ra-đa (radar), cũng có máy thâu tín hiệu. Ra-đa và máy thâu tín hiệu là gì? [b]Chính là hoa sen trong ao bảy báu. Bạn niệm một câu thì hoa sen nở lớn một chút. Nếu bạn niệm liên tục thì hoa sen sẽ từ từ nở lớn như bánh xe. Chờ tới khi bạn được vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc ở phương Tây, thì Phật-tánh và chân-tánh sẽ hóa sanh nơi hoa sen này. Ðến khi hoa sen nở thì Phật-tánh của bạn cũng hiển hiện[/b]. Do đó có câu: Nguyện sanh Tịnh Ðộ cõi Tây phương, Chín phẩm hoa sen là cha mẹ, Hoa nở, thấy Phật, ngộ Vô Sanh, Bất thối Bồ Tát là đồng bạn. Tin Phật thì có thể khiến chúng ta đắc Thường, Lạc, Ngã, Tịnhớthứ an lạc cứu cánh; do đó, chúng ta nên tin Phật.[b] Song le, "tin Phật" thì chẳng phải nói tin suông là đủ, mà chúng ta cần phải tu hành đúng theo Phật Pháp. Nếu chỉ nói tin, mà không chịu tu hành, thì cũng như mô tả đồ ăn hoặc đếm tiền giùm người, chẳng có ích lợi gì cho bản thân cả.[/b] Cổ nhân có nói rằng: [b]Ðạo là phải hành, không hành thì Ðạo có ích chi? Ðức là do tu, không tu thì Ðức từ đâu lại? [/b] Do đó, chúng ta phải chân chánh thực hành thường đem hai chữ "sanh tử" treo giữa lông mày, đem hai chữ "đạo đức" đặt dưới chân! Tại sao lại n[b]ói "đem hai chữ đạo đức đặt dưới bàn chân?" Bởi vì đạo đức là nền tảng căn bản của con người, cũng như gốc rễ là căn cội của cây cối vậy. Có đạo đức thì mình mới đứng vững được; bằng không, thì dưới chân không có điểm tựa, không có chỗ để mình lập thế mà đứng vững được. Nếu chúng ta thực hiện được hai chữ "đạo đức" này, thì nhân cách sẽ được thành lập vững vàng, mọi sự sẽ tự nhiên có thể thành công![/b] http://www.dharmasite.net/bdh15/HoaSenNgayXuan.html

CÔNG SỞ LÀ ÐẠO TRÀNG

  • Làm việc tức là tập thể dục, công sở tức là đạo tràng.

  • Có đủ ba thứ: đức tin, nghị lực và dũng khí thì không có việc gì trong thiên hạ bạn chẳng làm thành.

  • "Tận nhân sự, thính thiên mệnh" nghĩa là làm tận sức mình rồi hãy nghe mệnh trời. Không nên trong lòng lúc nào cũng sợ khó khăn. Con người phải khắc phục khó khăn, không nên bị khó khăn kềm chế mình.

  • Thành tựu lớn nhất ở đời người là do từ trong thất bại mà ta đứng lên.

  • Người ta nên có lòng dũng mãnh xăn ống quần lội xuống bùn (ám chỉ nhảy vào làm việc cực nhọc khó khăn). Một khi đã ướt nước rồi, mình chẳng nên lo sẽ toát mồ hôi, hay mưa ướt nữa.

  • Hễ có việc thì có phiền não. Nếu muốn làm việc gì thì trước phải quyết tâm, tuyệt đối không được sợ phiền não rắc rối. Nếu không sợ phiền não thì bất kỳ khó khăn rắc rối nào bạn cũng giải quyết đặng.

  • "Niệm tư tại tư" nghĩa là khi tay làm việc gì thì tâm chú ý vào việc đó. Khi chân bước đi trên đường lộ thì tâm chú ý vào bước chân. Khi miệng nói điều gì thì tinh thần chú ý vào miệng nói.

  • Bất luận là việc gì trong sinh hoạt hàng ngày bạn phải chú ý đến sự an toàn, đề phòng chuyện bất trắc. Không nên xem nhẹ rằng gió nhỏ, không nên khinh thường rằng lửa yếu: Một đóm lửa nhỏ tý có thể đốt rụi cả rừng cây.

  • Người bị người ta chi phối (điều động) là người có năng lực. Người chi phối (điều động) người khác là người có tài trí.

  • Ðời người vô thường, do đó khi xã hội cần đến mình, bạn hãy mau mau đáp ứng. Hôm nay có thể nhấc chân cất bước thì hãy mau mau tiến bước.

  • Không nên sợ chở nặng. Chỉ cần la bàn phương hướng đúng đắn thì xe gì đi cũng được. Khi độ người khác thì tự mình cũng sẽ được độ.

  • Không nên tìm đường tắt, đường hẻm. Nếu bạn chọn ngõ hẻm đôi khi ngõ hẻm là ngõ bí, không thể thông suốt. Cuối cùng bạn phải trở lại ngõ chính lúc đầu, đi mất một vòng xa hơn.

  • Làm người hay làm việc, mình phải giữ lòng tinh tấn. Tinh nghĩa là không tạp. Tấn nghĩa là không thối lui. Tinh thì chuyên tâm nhất niệm. Làm việc gì cũng cần chuyên tâm thì mới thành. Không có hai niệm tạp nhạp thì mới tiến bộ.

  • Ðời người giống như leo núi: mình phải tìm một mục tiêu thật tốt. Dùng quảng đời ngắn ngủi của kiếp người dồn hết về mục tiêu ấy. Không nên giải đãi, lười biếng. Bởi vì trên sườn dốc, một khi lười biếng thì sẽ tụt xuống ngay. Cũng không nên đặt mục tiêu tại quá nhiều đỉnh núi. Bởi vì núi này cao còn có núi khác cao hơn. Nếu cứ trèo xong núi này, lại tụt xuống leo núi khác thì kết quả tốn công mệt sức. Mình phải chọn đỉnh núi tốt nhất, thích ứng với mình nhất rồi dũng mãnh tiến tới. Ngày này tháng nọ, cuối cùng mình sẽ thành tựu kết quả to lớn.

  • Người đời nay, thế trí biện thông (thông minh, hiểu rộng), miệng nói hay ho, nhưng khi làm việc thì chuyện gì cũng tính toán hơn thiệt (ích kỷ). Ða số người ta chỉ hiểu lý thuyết, không biết thật sự. Họ biết chữ nghĩa nhiếu lắm song khi đụng phải người, gặp phải việc thì không thể điều giải dung hợp. Ðó chính là tâm phàm phu.

  • Sự cải biến ở xã hội không phải do hò hét mà thành. Do làm mà có.

  • Những kẻ hò hét, nói về chính nghĩa có bao nhiêu kẻ dám hy sinh?

  • Thế nào là chân lý? Khi lý và sự hợp nhất, sự và lý tương dung thì đó là chân lý.

  • Sự (sự việc) không thể tách rời lý (nguyên lý, quy tắc, đạo lý). Phải đặt lý ở trung tâm , còn sự thì vây quanh. Dùng lý để chuyển sự. Không phải dùng sự để sửa đổi lý.

  • Ở giữa lý và sự, trung gian cần có người. Khi lý viên mãn, sự viên mãn thì người viên mãn.

  • Gạo trong thiên hạ: một người không sao ăn cho hết. Công việc trong thiên hạ: một người làm không xuể. Cũng vậy: Một người chẳng sao lập được công cho cả thiên hạ.

  • Làm việc gì cũng phải giữ vững nguyên lý. Không nên cứ chìu lòng, thuận theo người ta đi ăn uống (xã giao). Cứ thường chìu lòng như vậy, thì chẳng những bạn không độ được người ta mà mình còn bị kéo xuống đường xấu.

  • Nếu không thể gây ảnh hưởng tốt tới người khác, tốt nhất hãy làm chuyện bổn phận của mình. Ngay cả Phật còn tại thế, có ba việc Ngài làm không được: 1/ Không thể chuyển được định nghiệp của chúng sinh. 2/ Không thể độ chúng sinh nào mình chẳng có duyên. 3/ Không thể độ hết nghiệp của chúng sinh.