Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2007

khai thị

Tiếng Việt Trang nhà Quảng Đức Tiếng Anh Phật Học Cơ Bản -------------------------------------------------------------------------------- ...... ... . Khai Thị Đại Sư Tuyên Hóa Việt dịch: Ban Phiên Dịch Đại Học Pháp Giới, Vạn Phật Thánh Thành --- o0o --- Phần 03 21. Pháp Sư Hằng Tại 22. Pháp Sư Hằng Đoan 23. Bảy Bồ Đề Giác Tri 24. Tại Nước Mỹ, Phật-pháp Mới ở Bước Đầu 25. Cảm Ứng Của Phật Pháp 26. Bốn điều Ngài A-Nan Hỏi Phật 27. Hằng Lai Pháp Sư 28. Mỗ Pháp Sư 29. Bạch Vũ Trụ 30. Mất Thân Người, Vạn Kiếp Chẳng Được Lại --- o0o --- 21. Pháp-sư Hằng Tại [^] Quý vị! "Thân người khó được nay đã được, Phật pháp khó gặp nay được nghe, Thiện tri thức khó gặp nay đã gặp," tôi thực là may mắn có đủ cả ba điều kiện này. Nhân duyên xuất gia của tôi là do được chứng kiến sự đau đớn của mẹ tôi khi người mang bệnh, tôi cảm thấy chuyện đời vô thường, chẳng biết hướng tới đâu. Tôi không biết kiếp này làm người, rồi kiếp sau còn làm thân người nữa không? Bởi vậy năm 1979, tôi tới với Thượng Nhơn, cầu Ngài cho xuất gia. Thượng Nhơn hỏi: "Tại sao muốn xuất gia?" Tôi đáp: "Nhân thấy mẹ tôi mang bệnh đau đớn, rồi bỗng chốc ra đi, tôi cảm thấy cái khổ về sanh tử, nên phát tâm xuất gia." Xuất gia tu đạo tức là muốn chấm dứt sanh tử, ra khỏi tam giới, không còn bị vướng trong sáu nẻo của vòng luân hồi nữa. -------------------------------------------------------------------------------- 22. Pháp-sư Hằng Đoan [^] Lần ấy là lần đầu tiên tôi đến Hương Cảng, một nơi có cái tên rất đẹp là "hòn ngọc phương Đông." Nhìn thấy quang cảnh, nào người, nào xe cộ đông đảo, chen chúc, nhất định là cuộc sanh hoạt trên đảo này rất là khẩn trương, không giống như tại đất Mỹ rộng lớn, ở đó tương đối mọi người sống nhàn tản và tự tại hơn. Nhưng, một khi đã cư ngụ trên đảo này, và muốn cho tinh thần được thơ thới, tâm tình an định thì có một biện pháp là niệm danh hiệu các Bồ-tát, như niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát, hay Nam-mô A-Di-Đà Phật. Nguyên do là niệm danh hiệu Phật, có thể tiêu trừ nghiệp ác, trừ các bệnh hiểm nghèo, hoặc các sự việc chẳng được xứng ý và tăng trưởng căn lành của chúng ta. Cũng giống như trường hợp của tôi, năm 1978 lần đầu tiên tôi đến Vạn Phật Thành để dự thất Quán Âm, Thượng Nhơn bảo tôi thường xuyên niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát, nên từ hồi đó, tôi tùy duyên tập cho mình niệm danh hiệu của Ngài Quán Âm, lúc lái xe, lúc đi bộ, khi thì tôi tụng chú Đại-bi. Tôi tin rằng chỉ cần chúng ta thành tâm tha thiết trì tụng, thì Phật và chư vị Bồ-tát sẽ thường xuyên ở bên cạnh giúp đỡ chúng ta, để chúng ta gặp vạn sự như ý, thân tâm thơ thới! -------------------------------------------------------------------------------- 23. Bảy Bồ Đề Giác Tri [^] Bổn thân người học Phật pháp phải có đủ chánh tri, chánh kiến. Có chánh tri chánh kiến thì mới biết tu hành cách nào. Có được pháp môn chánh xác mới có được pháp mạch chánh xác, bởi vậy trước hết quý vị phải hiểu thế nào là bẩy Bồ-đề giác tri. Giác tri phần: Giác tri tức là hiểu rõ đường lối tu hành như thế nào. 1. Trạch pháp giác tri: Phải biết cái nào là chánh, cái nào là tà, cái nào là tốt, cái nào là xấu, phải có con mắt chọn lựa, mới không lạc vào đường rẽ. Nếu không biết chọn lựa tất dễ bị dẫn tới những ngõ ngách quanh co, tìm không ra lối, cho nên trạch pháp giác tri là quan trọng vô cùng. Muốn biết cách chọn lựa sao cho chính xác, tất phải có trí huệ, còn không thì cứ chọn đi chọn lại, mà vẫn còn sai lầm. Sai lầm vì không có trí huệ, vì thiếu cái trí huệ chọn pháp. Không biết chọn thì rất dễ đi vào đường rẽ. 2. Tinh tấn giác tri: Nếu hiểu rõ Phật pháp mà lại gạt nó qua một bên không chịu dụng công tu hành thì có khác chi suốt ngày nói ăn mà chưa hề thực sự nếm mùi pháp vị. Giác tri này nói về sự tinh tấn. Như quý vị đã biết chọn pháp, nắm được pháp yếu một cách chính xác, lại tinh tấn tu hành, ngày đêm sáu thời thân tâm dụng công, không lười biếng; thân tinh tấn tức là niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh, lạy sám v.v.., tâm tinh tấn tức là thường xuyên niệm niệm không quên, không khởi vọng tưởng. Biết cách chọn chánh pháp, mới tránh được tình trạng tu mù. Tu mù mà không gặp thiện tri thức chỉ bảo, thì kết quả đường Phật không đi mà đi về địa ngục, tưởng là theo đạo Bồ-tát mà thành theo ma đạo. Tại sao mà nghiêm trọng đến thế? Bởi tri kiến không chánh đáng, sai lầm nhân quả, nên càng tu càng đi xa mục tiêu của mình đã vạch sẵn, nghĩa là "sai một ly, đi một dặm," hoặc như người ta thường nói: Mông đổng truyền mông đổng Nhất truyển lưỡng bất đổng Sư phụ hạ địa ngục Đồ đệ vãng lý củng Dịch nghĩa là: Hồ đồ truyền kẻ hồ đồ, Một truyền hai chẳng hiểu, Sư phụ xuống địa ngục, Đồ đệ cũng xuống hầu. 3. Hoan hỷ giác tri: Có được con mắt chọn pháp, ắt phải có tâm hoan hỷ gắng công tinh tấn tu hành. Chẳng phải ba hồi tinh tấn, ba hồi lại bực bội với chính mình; không nên suốt ngày phiền não, chau mày nhăn nhó, điều cần thiết là không lười biếng, biết hoan hỷ và tinh tấn dụng công. 4. Trừ giác tri: Tuy nhiên tâm hoan hỷ vẫn chưa phải là cứu cánh, phải trở lại sự bình lặng trong tâm, gạt bỏ phiền não vô minh, diệt trừ các tập khí xấu. Diệt trừ xong thì tự cảm thấy nguồn pháp hỷ sung mãn. 5. Xả giác tri: Khi tâm đã trở về bình lặng, ta lại cần phải xả sự bình lặng đó, nghĩa là không chấp vào một thứ gì hết. Phải "quét sạch mọi pháp, lìa hết mọi tướng," đạt tới cảnh giới trong thì không cảm thấy thân tâm, ngoài thì không thế giới. 6. Chánh định giác tri: Thực hiện được pháp xả xong thì mới có định lực. Có chánh định rồi mới có chánh thọ. Chánh định ở đây không phải là loại định hồ đồ, không phải là vào định vô tâm, hay là định của trời vô tưởng, cái đó không phải là rốt ráo. 7. Chánh niệm giác tri: Vào được chánh định, tâm sẽ có chánh niệm, nghĩa là niệm chánh xác. Khi có chánh niệm thì sẽ không còn bị đọa lạc, sớm tối không còn khởi lên vọng niệm, và lúc đó mới chứng được tam bất thoái: niệm bất thoái, vị bất thoái, hành bất thoái. Nói tới định kẻ tu hành liền biết đó là thiền định, hay "thiền-na," một danh từ Phạn (dhyana) có nghĩa là "tĩnh lự," tức là dừng lại mọi vọng tưởng, và còn gọi là "tư duy tu." Tư duy hay là "tham," như tham thoại đầu, tham câu "niệm Phật là ai?" hoặc tham "bổn lai diện mục từ lúc cha mẹ chưa sanh." Nay, tôi xin giảng về cảnh giới của tứ thiền. 1. Sơ thiền, Ly sanh hỷ lạc: Hơi thở ngưng lại. Bên ngoài không thấy có hô hấp, nhưng bên trong hô hấp còn hoạt động, đây là cảnh giới không thể nghĩ bàn, chỉ người tu mới có, mới biết, người ngoài không hiểu nổi. Loại thiền này lìa sự hỷ lạc của thế gian nhưng lại được pháp hỷ sung mãn, sống nhờ thiền duyệt (vui thiền) và cũng đạt được chút ít cảnh giới minh tâm kiến tánh. 2. Nhị thiền, định sanh hỷ lạc: Lạc ở đây về mức độ thì cao hơn trong cảnh sơ thiền, thiền giả luôn luôn ở trong cảnh hoan hỷ và sự hoan hỷ đó là từ ở định sanh ra. Tu đến mức này thì ở trong người kinh mạch hết khua động. 3. Tam thiền, Ly hỷ diệu lạc: Niệm trụ lại, chấm dứt niệm hoan hỷ, bởi còn hoan hỷ tức còn chấp trước. Nay thì đem cả niệm hoan hỷ trừ bỏ đi luôn. 4. Tứ thiền, Xả niệm thanh tịnh: Xả toàn bộ các niệm, không niệm gì nữa. Lúc đó trong tâm không còn gì ngăn ngại, nhưng cũng chưa phải là đã ra ngoài tam giới. Đây là một kết quả tiến bộ của công tu định, chưa phải là một cảnh giới cao, để đến độ không cần tu nữa, cho là mình đã khai ngộ mà khởi tâm kiêu mạn. Tới chỗ này rất cần có người khác chứng minh cho mình, tự mình không thể ấn chứng cho mình được. Người tu đạo phải như thế, không thể có lòng cống cao ngã mạn, nói lời hư dối, nếu không sẽ bị đọa địa ngục. Phàm kẻ học Phật không thể tạo cái nghiệp vừa thiện vừa bất thiện một cách hỗn tạp như vậy, chẳng thể mang cái ý niệm vị kỷ như vậy. Như nếu có ai tự xưng là thiện tri thức, chúng ta hãy lấy sáu tiêu chuẩn sau đây để phán xét xem họ có thực là thiện tri thức hay không: 1. Quán sát người đó có lòng tham không, có tham danh, lợi, tiền tài, hay sắc dục không? 2. Thiện tri thức vốn không cùng người tranh cãi, vậy xem người đó có tâm tranh đua không? 3. Xem họ có tham cầu không? Nói năng có chân thật không? 4. Xem họ có ích kỷ không? 5. Xem họ có phải tự lợi không? 6. Xem họ có nói dối hay không? Nếu xét các tiêu chuẩn trên đều có đầy đủ thì người đó chẳng phải là thiện tri thức mà là ác tri thức, hoặc giả là thiên ma, ngoại đạo. Ngược lại nếu xét các điều trên đều không có thì người đó thực là chẳng tham, chẳng tranh, chẳng cầu, chẳng ích kỷ, chẳng tự lợi, chẳng nói dối, ta có thể tin rằng người đó đúng là thiện tri thức và ta yên tâm theo học mà chẳng ngại đi vào đường tà. Buổi tối ngày 11 tháng 12 năm 1981 -------------------------------------------------------------------------------- 24. Tại Nước Mỹ, Phật Pháp Mới Bước Đầu [^] Tại Mỹ, Phật giáo rất mới mẻ. Tuy nhiên, Phật giáo tại Mỹ vốn chẳng phải riêng của nước Mỹ mà là chung của thế giới. Phật giáo chân chánh không hề hạn định thuộc quốc tịch nào, thuộc địa phương nào, vấn đề ta và người chẳng có sự phân biệt. Tại Á-châu, một số người thừa nhận nay là thời đại mạt pháp, nhưng pháp vốn chẳng phân ra chánh pháp hay mạt pháp, chỉ có điều khi người ta chẳng chịu tu thì đó đúng là thời mạt pháp. Có câu nói: "Người truyền bá pháp, không phải pháp truyền bá người." Đừng hỏi lôi thôi, gắng mà tu hành, thì tự nhiên chánh pháp sẽ ở mãi với thế gian. Người không tu hành, thì pháp phải mạt. Tôi ở Hương Cảng trên mười năm, có rất nhiều thanh thiếu niên theo tôi học Phật pháp, lý do là tôi vốn ưa giới trẻ. Về sau, cơ duyên chín mùi, tôi qua đất Mỹ. Từ năm 1961 đến năm 1968, tôi ở trong "mộ địa," nên mới lấy hiệu là "Mộ trung tăng," một Tăng sĩ ở trong mộ, ngụ ý rằng tôi chẳng tranh đua với ai. Bảo tôi đúng, tôi không cãi, bảo tôi sai, tôi cũng chẳng cãi. Mới đầu tôi ở một căn hầm, rất là ẩm thấp, sau mới dọn đến một chỗ tương đối khá hơn, trải qua mấy năm chẳng thành tựu được gì. Tới năm 1968, có mấy vị sinh viên ở Seattle đến tham gia trại hè, tôi giảng cho đại chúng kinh Lăng-nghiêm, rồi dạy họ thiền tập, công phu khuya, chiều. Hồi đó cái gì họ cũng không hiểu, thành ra một mình tôi phải lo đủ, nào giảng kinh, thuyết pháp, đốt lò, lo nước, rửa chén, nấu ăn, tất cả do một mình tôi lo liệu. Tôi giảng xong bộ kinh Lăng-nghiêm thì số sinh viên này bèn bỏ Seattle, dọn đến San Francisco cư ngụ. Năm 1969, có năm vị xuất gia đi Đài Loan thọ giới, và kể từ đó người xuất gia mới thực sự có ở đất Mỹ. Sau đó, tôi giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, rồi kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ, kinh Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm, riêng kinh Hoa Nghiêm giảng trong chín năm rưỡi, bao nhiêu năm giảng kinh như vậy không có ngày nào nghỉ. Mấy lần tôi có trở về Hương Cảng, nhưng ít khi gặp gỡ dân Hương Cảng. Lần đó tôi mang theo mười người về Hương Cảng. Tôi nhận thấy dân Hương Cảng có duyên sâu đậm với Phật pháp, cho nên tôi muốn đem hết cái nghĩa chân chánh của Phật pháp ra để thuyết giảng. Vạn Phật Thành có mở đại học, trung học và tiểu học. Như có đồng bào nào ở Hương Cảng muốn qua đây học, tôi xin hết lòng hoan nghênh. Trước đây khá lâu, cư sĩ Tạ Quân Nhu ở Hương Cảng qua Mỹ kiếm Pháp-sư Độ Luân. Khi còn ở tại Hương Cảng, pháp hiệu của tôi là Độ Luân, tới khi qua đây tôi đổi thành Tuyên Hóa, nhưng ông ta không nhận ra tôi. Khi thấy tôi ở giảng đường, ông hỏi: "Pháp sư Độ Luân nay ở đâu?" Tôi đáp: "Độ Luân tịch rồi." Nghe nói vậy, coi bộ ông ta rất lấy làm thương cảm. Ông lại hỏi: "Người đã qua đời bao lâu rồi?" Tôi nói: "Ông ấy qua đời đã lâu." Hỏi: "Vậy Pháp sư đối với ông ấy thì như thế nào?" Tôi nói: "Có thể nói rằng tôi là đồ đệ của ông ấy, mà cũng là sư phụ của ông ấy nữa, bởi tôi dạy cho ông tiếng Anh nên tôi là sư phụ, còn ông ấy dạy cho tôi tiếng Trung Hoa nên tôi là đồ đệ." Ngày hôm qua ông cư sĩ này lại đến thăm tôi nữa, tôi chợt nhớ lại câu chuyện khá hứng thú này. Chúng ta là người học Phật pháp, quyết phải có con mắt chọn pháp để nhận Phật pháp cho đúng. Phải có được cái biết sáng tỏ, chớ không lờ mờ trong cảnh tu mù mà uổng phí mất thời gian. Học Phật pháp phải có hướng đi lên, làm hay hơn, chớ không thể khi thì học Phật, khi thì tạo nghiệp, rồi đi xuống. Nhắm hướng đi lên tức là học Phật pháp. Chúng ta nhất định phải nhận thức rõ điều thật giả, không phụ họa nói theo người khác, rồi người ta nói sao mình cũng nói như vậy. Có thế chúng ta mới đúng là người tin Phật một cách chân chánh. Buổi tối ngày 12 tháng 12 năm 1981 -------------------------------------------------------------------------------- 25. Cảm ứng của Phật Pháp [^] Đi tới chỗ nào tôi cũng muốn dìu dắt kẻ hậu tiến, bởi vì trong giới trẻ có cả một bầu nhiệt huyết mà ta cần phải hâm nóng để cổ võ. Số là giới thanh niên thường có đầu óc mới mẻ, thiên khoa học, chớ không cổ hủ như đầu óc chúng ta. Hôm qua, rất nhiều người có những ý nghĩ sai lầm như: "Chúng ta đến đây là để nghe lão Pháp sư giảng kinh, hóa ra toàn là gặp mấy vị Pháp sư ít tuổi chiếm hết cả thời gian, thật là uổng phí." Nghĩ như vậy là không đúng, các vị Pháp sư trẻ tuổi họ nói pháp không giống nhau, thì mọi người mới được hưởng những pháp vị khác nhau, hiện nay thỉnh các vị này khai thị, xin tất cả chú tâm nghe giảng. - Vạn Phật Thành này, loại người nào cũng có. Người thiện có, người ác có, tốt xấu đều có cả. Tuy nhiên đến đây rồi thì rồng hay cọp cũng vậy, rồng chẳng phải cứ tùy tiện làm mưa, hổ chẳng phải luôn luôn gây gió bão. Ngày 19 tháng 6 năm 1968 ở San Francisco có xảy ra vụ án đổ máu Kim Long. Về sau băng đảng Hoa Thanh lại muốn gây thêm vụ đổ máu thứ hai thậm chí tới vụ thứ ba nữa, nguyên nhân gây ra từ sự tranh đoạt địa bàn hoạt động của hai băng đảng Hoa Thanh và Tổ Phương, nhưng sau họ đều xin quy y Tam Bảo, quy y tại Vạn Phật Thành, rồi họ mang hết cả vũ khí đổ xuống biển. Từ đó họ cải tà quy chánh, nào đọc kinh, nào làm công quả, không dám làm điều càn bậy nữa. Hồi đó có tám người xin quy y, và lúc bấy giờ chẳng ai biết lai lịch họ ra sao. Trong khi quy y, tôi nói với họ: "Người nào quy y với tôi, sẽ không được sát sanh, không được lấy trộm, không được đốt nhà, không được nói dối." Cả tám người nghe nói như vậy, đều đổ mồ hôi lạnh, trong số đó còn có người mang theo một khẩu súng lục. Tôi lại hỏi: "Trong số các ông đây ai là thủ lãnh? Hãy giơ tay lên!" Người đứng đầu trong số này tức thời giơ tay lên tự nhìn nhận. Về các sự tình này, tôi chẳng nói cho người ngoài biết. Bởi vì nếu tôi loan tin này ra bên ngoài thì có khác gì tôi mời bà con ở San Francisco tới để họ cảm ơn tôi. Tôi không cần ai mang ơn tôi, tâm nguyện của tôi chỉ là đi đến đâu tôi mong nơi đó được an ổn, thịnh vượng, đồng thời tôi nguyện dùng sự cảm hóa đối xử, chớ không dùng thế lực để ức chế ai. Kế sau vụ đổ máu Kim Long, phố Tàu ở San Francisco có một thời gian trở thành một thành phố chết, nay thì thịnh vượng đã được khôi phục lại như xưa. Ngày 13 tháng 12 năm 1981 -------------------------------------------------------------------------------- 26. Bốn Điều Ngài A-Nan Hỏi Phật [^] Tứ niệm xứ (hay bốn lãnh vực quán niệm) nằm trong số ba mươi bảy phẩm trợ đạo, gồm có: thân, thọ, tâm, pháp. Khi Phật sắp nhập Niết-bàn, Ngài A-nan đưa ra bốn điều này hỏi Phật: 1. Đối với tất cả Kinh điển, nên dùng những chữ gì để mở đầu kinh? 2. Khi Phật ở tại thế, Phật là Thầy của chúng con, khi Phật nhập Niết-bàn rồi chúng con tôn ai là Thầy? 3. Khi Phật ở tại thế, chúng con ở cùng với Phật, khi Phật nhập Niết-bàn rồi chúng con nên ở với ai? 4. Khi Phật ở tại thế, các Tỳ-kheo xấu do Phật điều phục họ, khi Phật nhập Niết-bàn rồi, chúng con làm cách nào điều phục họ? Số là khi Phật sửa soạn nhập Niết-bàn, tuy đã chứng được sơ quả A-la-hán, nhưng Tôn giả A-nan vẫn còn khóc lóc giống như một đứa trẻ, vật vã tay chân. Tôn-giả A-Nâu-Lâu-Đà mới khuyên rằng: "Ông đừng khóc nữa, khóc cũng vô ích, ông phải mang bốn điều ra thỉnh Phật." A-nan hỏi: "Bốn điều gì?" Tôn-giả A-Nâu-Lâu-Đà mới cho biết bốn điều vừa kể trên. Thấy lời nói đúng, ông A-nan liền đến chỗ Phật thỉnh thị. "Bạch Thế-tôn! Thế-tôn thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng hơn ba trăm pháp hội, nhưng đến khi kết tập Kinh điển, chúng con phải lấy chữ gì để mở đầu kinh?" Bởi vì điển tịch của ngoại đạo cũng có, họ bắt đầu bằng chử "A" (không) hay "Ưu" (có). Phật đáp: "Đối với những Kinh điển nào mà ta nói ra, thì lấy mấy chữ 'Tôi nghe như vầy" để bắt đầu." Thời nay tôi thấy rất nhiều kẻ ngoại đạo và học giả cứ tùy tiện lấy mấy chữ "Tôi nghe như vầy" để bắt đầu bản văn của họ, có lúc chỗ nào cũng thấy mấy chữ nầy. Thậm chí có những kẻ không hiểu biết gì bảo Kinh Lăng-Nghiêm là giả. Thực ra, muốn cho Phật pháp hưng thịnh, trước hết phải học Lăng-nghiêm. Lăng-nghiêm là phá tà hiển chánh, bởi không còn gì là chân chánh hơn Kinh Lăng Nghiêm. Bởi vậy cho nên các hàng yêu ma quỷ quái, bàng môn tả đạo mới tìm hết cách chống Kinh Lăng-Nghiêm. Kinh này mà không còn ở trên thế giới thì Phật pháp phải tiêu ma. Nếu trên thế gian không có ai biết trì tụng chú Lăng-nghiêm thì yêu ma quỷ quái sẽ xuất hiện hãm hại nhân loại, khiến mọi người đều biến thành quỷ quái yêu ma và cùng một quyến thuộc với chúng. Đây là một vấn đề rất mực quan trọng. Nếu như biết thọ trì chú Lăng-nghiêm thì tối thiểu trong bẩy đời có thể thành hạng đại phú, tỷ dụ như ông Vua dầu hỏa kia, hay ông Vua xe hơi, có thể kiếp trước đã từng trì tụng chú Lăng-nghiêm cho nên bây giờ mới được vinh hoa phú quý như thế. Có điều họ vẫn ở trong mê, chỉ hưởng thụ mà không biết tu đạo. Số là ở những kiếp trước họ tạo nhân hỗn tạp cả thiện và ác, nghiệp lành đã chín, họ được hưởng giầu có, nhân ác thành thục bèn có nghiệp tội. Nghiệp mà không rõ ràng, sẽ đi lạc lối, cho nên mỗi người chúng ta quyết không thể coi nhẹ Kinh và chú Lăng-nghiêm. Phật nhập Niết-bàn thì chúng ta phải lấy Ba-la-đề-mộc-xoa (Pratimoksha) - tức là Giới để làm thầy chúng ta. Giới là "dừng cái ác, phòng cái quấy," là "mọi điều ác chẳng làm, các điều thiện phụng hành." Chúng ta phải phục vụ lợi ích cho nhân loại, cống hiến cái của chúng ta cho xã hội, do đó người xuất gia đừng có chờ đợi người khác cúng dường mình. Tại nước Mỹ, người xuất gia nên đắp y, vì đắp y là biểu thị tinh thần giữ giới, biểu trưng hiện tướng Tỳ-kheo, chớ chẳng phải là cố tâm lập dị. Thế giới ngày nay, người ta lấy giả làm thiệt, lấy thiệt làm giả, cho phải là trái, cho trái là phải. Nay tôi xin kể một câu chuyện thật làm tỷ dụ: Vào thời gian Trung Hoa Đại Lục hỗn loạn, có rất nhiều sinh viên bỏ chạy qua Đài Loan. Trong lúc tình thế cấp bách, phần đông quên không mang theo các bằng cấp tốt nghiệp, số mang theo được giấy tờ thì chỉ có mấy người. Lòng họ hãy còn trẻ trung, nên họ cho người khác mượn bằng để mạo theo làm một số bằng giả. Trông mấy cái bằng mới sạch sẽ tinh tường, quý vị khảo thí thông qua dễ dàng, nhưng kết quả là mấy người có bằng thiệt không được chấp nhận bởi vì các bằng cũ thì giấy xấu, rách nát. Thì ra họ nhận cái thật làm cái giả. Hồi Phật giáo mới từ Ấn độ truyền qua Trung Hoa, các vị Tỳ-kheo Trung Quốc cũng đắp y, với đầy đủ oai nghi. Áo cà-sa thời đó cũng giống như loại cà-sa của các Tăng thuộc hệ Nam-tông hiện nay, tức không có vòng móc. Tuy nhiên, vì khí hậu Trung-quốc lạnh lẽo, bên trong áo cà-sa người ta còn phải mặc thêm áo khác nữa, cho nên nhiều khi áo ngoài bị tuột mất mà không cảm thấy. Hồi đó, tu sĩ rất thành kính, có người trì giới không giữ tiền bạc, vậy mất cà-sa rồi thì lấy gì để thay thế? Trước tình trạng này, mọi người họp lại để đưa vấn đề ra giải quyết. Một vị đề nghị dùng cái vòng móc để giữ áo cà-sa thì cà-sa không bị tuột ra nữa. Đề nghị này đưa ra được mọi người tức khắc vỗ tay tán thưởng và sau đó thông qua, từ đó áo cà-sa của các tăng Trung quốc mới có vòng móc. Về sau các Tỳ-kheo Trung-hoa thường hay ra ruộng trồng trọt, đắp y đi lại thật là phiền phức nên bình thường thì không đắp y, trừ lúc thượng đường hay quá đường mới đắp. Sau này mọi thứ đều qua loa, thậm chí lên điện hay quá đường, cũng không đắp y nữa. Người ta nói "quen rồi thì thành lệ," bây giờ người ta coi không đắp y là bình thường, còn đắp y mới là kỳ quặc. Các Tăng sĩ thuộc Tổng-hội Phật-giáo Pháp-giới vẫn theo tác phong cũ nên họ đắp y một cách thường xuyên như lúc xưa. Các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni chỉ trích chúng ta lập dị. Chúng tôi không tranh biện với ai, quý vị bảo chúng tôi đúng, chúng tôi vẫn đắp y mà bảo chúng tôi không đúng, chúng tôi cũng vẫn đắp y. Ông A-nan hỏi Phật câu: "Khi Phật ở tại thế, chúng con ở cùng với Phật, khi Phật nhập Niết-bàn rồi chúng con phải ở với ai?" Phật đáp: "Sau khi ta nhập diệt rồi, tất cả đệ tử của ta phải trú tại tứ niệm xứ." Tứ niệm xứ là bốn nơi: thân, thọ, tâm, pháp. 1. Quán thân bất tịnh. Thân thể con người nếu để lâu chẳng chịu tắm rửa, tất toát ra mùi hôi hám. Cho dù tắm rửa, nhưng thân có chín lỗ, chuyên bài tiết những thứ chẳng sạch, như mắt có ghèn, mũi có nước mũi, miệng có đờm rãi, tai có ráy tai, rồi các thứ thuộc tiểu tiện và đại tiện, nghĩa là thân thể chúng ta quả là vô cùng ô uế. Vậy mà sao người ta lại coi như là một thứ quý giá, cho đeo vào thân nào ngọc, nào vàng bạc, các thứ châu báu, hoặc lấy nước hoa, phấn thơm bôi vào, há có khác gì đem hương hoa, vật quý để trang hoàng cho cái nhà xí vậy! Quý vị nên hiểu rằng, thân thể của mỗi người chúng ta là một cái nhà xí, trong ruột toàn chứa những vật bài tiết thuộc về đại tiểu tiện, có cái gì mà chúng ta phải luyến tiếc nó quá đáng như vậy? Lúc tuổi trẻ thì cơ thể cùng các bộ phận trong thân còn biết nghe lời ta, đến lúc già chúng đều bãi công, đầu thì váng, mắt thì hoa, miệng lưỡi khó khăn, tay chân lập cập, rồi trăm thứ bệnh phát sinh, như vậy cái thân này còn đáng tiếc nữa sao? Bởi vậy chúng ta nên nhận cho thật rõ cái thân này là bất tịnh, là chẳng trường cửu, để đừng có điên đảo vì nó. 2. Quán thọ là khổ. Thọ nghĩa là cảm thọ. Đừng nên cho rằng hưởng thọ là một sự khoái lạc, kỳ thực hưởng thọ chẳng có gì là hay, "thọ khổ thì hết khổ, hưởng phước thì tiêu hết phước," thà thọ cái khổ, đủ khổ rồi thì hết khổ. Nếu quả mình đương hưởng phước, thì nên tiếc cái phước mà chớ hưởng tận phước. 3. Quán tâm vô thường. Tâm là niệm niệm vô thường, niệm niệm dời đổi. 4. Quán pháp vô ngã. Quán mọi pháp đều không có bản thể, không có tự tánh, không có cái "ngã" trong đó. Chúng ta y theo tứ niệm xứ mà hành trì, ắt cái chấp ngã của chúng ta sẽ dần dần bị phá, chấp pháp cũng không và dễ đi tới sự khai ngộ. Tại sao chúng ta không thể chứng ngộ? Chẳng qua là vì còn chấp trước, chưa buông bỏ, thấy cái gì cũng có cái ta ở đấy, cái nhà lớn này là của ta, cái máy bay kia, thuyền máy kia, ngân hàng kia cũng là của ta, từ sớm đến tối cái gì cũng của ta, của ta, của ta . . . đến lúc chết, hai tay buông xuôi, chẳng có gì mang theo được. Nhân sanh nhất trường mộng Nhân tử mộng nhất trường Mộng lý thân vinh quý Mộng tỉnh tại cùng hương Triêu triêu tại tác mộng Bất giác mộng hoàng lương Mộng trung nhược bất tỉnh Uổng tác mộng nhất trường. Dịch nghĩa là: Khi sống, một giấc mộng Khi chết, mộng một giấc Trong mộng thấy vinh hiển Tỉnh mộng ở xóm nghèo Sớm sớm lại nằm mộng Chẳng hay mộng kê vàng Trong mộng không tỉnh giấc, Uổng thay giấc mộng vàng. Bởi vậy chúng ta cũng đừng chấp trước một cách thái quá, phải mau mà tu hành, học tập Phật pháp, tìm kiếm pháp môn lìa sanh thoát tử. Có câu nói "bể khổ không bờ, quay đầu là bến," do đó không nên chìm nổi mãi trong bể khổ, biết tới ngày nào mới được giải thoát. Cuối cùng Ngài A-nan hỏi Phật: "Khi Phật ở tại thế, các Tỳ-kheo xấu do Phật điều phục họ, khi Phật nhập Niết-bàn rồi, chúng con phải đối xử với họ như thế nào? Có giam họ và xử phạt họ chăng?" Phật đáp: "Không cần! Sau khi ta nhập Niết-bàn rồi, đối với các Tỳ-kheo xấu, các ông dùng pháp 'mặc tẫn' để hoán cải họ. Sao gọi là mặc? Mặc là im lặng, không có giảng giải gì thêm với họ. Tẩn là gì ? Nghĩa là mọi người không được trao đổi, quan hệ gì với họ. Hãy dùng sự "im lặng" của đại chúng để giải hóa họ. Phàm gặp phải hạng Tỳ-kheo xấu, không biết đạo lý, lấy chánh làm tà lấy tà làm chánh, hoặc không phân biện thị phi đen trắng, không hiểu đúng Phật pháp, thì đừng giao tiếp, đừng nói chuyện với họ, đừng để ý tới họ, thì nên coi như họ không có, như vậy lâu dần họ sẽ tự phản tỉnh, họ sẽ nhận ra rằng những điều họ hành động lâu nay chẳng đúng với Phật pháp, và từ đó cải tà quy chánh, y giáo phụng hành. Khi Phật tại thế cũng có Tỳ-kheo bất thiện, nay thời đại chúng ta đã cách xa với ngày Phật nhập Niết-bàn rồi, vậy chẳng hiểu số Tỳ-kheo bất thiện có nhiều hay không. Chúng ta không nên cùng với số đó tranh luận, bởi họ không nói chuyện đạo lý chuyện nhân quả, lại còn bài xích nhân quả. Ta không thể cùng họ tranh mà phải dùng tâm nhẫn nại đối phó, và nhẫn nại thì cứ để mặc họ, vậy là thực hành đúng như ý nghĩa lời phó chúc thứ tư của Phật cho chúng đệ tử. Trước đây, tôi cư ngụ tại Hương Cảng 12 năm (1948-1962), tới năm 1962 tôi mới đi Mỹ. - Hương Cảng khá lâu như vậy, nhưng tôi chẳng làm được điều gì hữu ích. Nay từ bên Mỹ trở về, tôi nguyện kết chút pháp duyên với các vị phụ lão cùng các huynh đệ đồng bào tại Hương Cảng, do đó tôi muốn thực sự cống hiến Phật pháp tới tận tâm khảm các vị, có vậy tôi mới an lòng. Hơn nữa giới thanh niên trong thời đại này, sống nay không biết mai, tinh thần rất khẩn trương, bởi vậy họ phải lo sao cho chân đứng vững vàng, chớ không phải cứ khôn lanh, tham cái tiện nghi nhỏ, khoái lạc nhất thời mà phóng tâm buông thả. Chỗ nào chúng ta cũng nên an phận và khép mình trong quy củ, không được buông lung. Phải hiểu rõ nhân quả, không sai lầm nhân quả, như người xưa đã nói: "gieo nhân lành gặp quả lành, gieo nhân ác gặp quả ác," "giết cha của người thì người giết cha mình, giết anh của người thì người giết anh mình," và "trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu." Nghe qua thì là đơn giản nhưng nhân quả là như vậy. Tôi hy vọng thanh niên chúng ta nên ráng đi học, trong tương lai sẽ mưu cầu hạnh phúc và an ninh cho xã hội chớ không nghe theo một số điên cuồng, đầu óc hồ đồ, sống phiêu lưu không chủ định. Phải trở thành một cá nhân tốt, nếu có một người tốt thế giới lại thêm được một phần thanh tịnh. Bởi đâu mà thế giới này vẫn chưa bị hủy diệt? Vì còn có người tốt. Người tốt chính là ánh sáng, là chánh khí, là sanh mạng, là nguồn năng lượng của thế giới. Bởi lý do thế giới hiện nay đương ở vào một vị thế tối nguy hiểm, nếu chúng ta không cải biến được cái tác phong điên cuồng của chúng ta, thế giới càng ngày càng hư hoại, tư tưởng nhân loại mỗi ngày một thiên lệch. Tôi mong mỏi rằng tất cả thanh niên chúng ta có thể kiếm ra được kim chỉ nam của đời mình chớ không hùa theo trào lưu mà phiêu bạt để làm kẻ tội nhân của xã hội. Trong thời gian sáu ngày thuyết pháp, nếu tôi có nói điều gì không đúng, hy vọng quý vị lượng tình cho. Tôi cũng hy vọng chư vị trưởng lão ở Hương Cảng, các Đại đức cao Tăng chỉ giáo cho. Nếu điều tôi nói là đúng, quý vị thử nghiệm coi, nếu cho rằng tôi nói sai, quý vị cứ coi như không nghe gì hết, bởi vì tôi là kẻ bất học vô thuật, những điều nói ra đã từng đắc tội với người không ít, xin lượng thứ cho. Tôi cũng mong vị cư sĩ mời tôi đến thuyết pháp, được kiện khang, gặp mọi sự cát tường, vạn sự như ý, bồ-đề tăng trưởng, sớm thành Phật đạo. Số là tôi vốn nguyện rằng: "Những ai đến tham gia pháp hội, gia đình sẽ được an lạc, họ hàng hòa mục, mọi sự hanh thông. Người vô bệnh thì vĩnh viễn sẽ không bệnh, người có bệnh nghe pháp xong thì bệnh sẽ tiêu trừ." Tôi hy vọng chư Phật và chư Bồ-tát hoàn thành nguyện lực. Tôi cũng hy vọng tất cả mọi người được mạnh khỏe, sớm thành Phật đạo. Năm 1968, tôi ở Sanfrancisco. Lúc đó có một số các nhà khoa học, địa chất học, các chuyên viên nghiên cứu về tương lai v.v... họ đều tiên đoán rằng đến ngày 4 tháng 4 năm 1968 sẽ xảy ra một trận động đất lớn tại San Francisco, đất sẽ chìm xuống biển, "ruộng dâu biến thành biển xanh," các cư dân tại đây sẽ có dịp về chầu Long vương dưới biển. Đã có rất đông bà con dọn đi đến các tiểu bang khác. Một số đệ tử của tôi đến hỏi tôi phải làm cách nào? Hồi đó tôi nói với họ rằng: "Chỉ cần tôi ở San Francisco một ngày, tôi cũng không chịu để nơi đây xảy ra động đất." Bởi vậy từ 1968 đến nay, chưa thấy có trận động đất nào. Bảo rằng có, nhưng chỉ là động đất nho nhỏ mà thôi. Có điều tôi đã rời khỏi San Francisco, nên tôi chẳng quản tới nữa, bởi lời nguyện của tôi là "tôi đến địa phương nào, nhất định nơi đó được bình an vô sự." Có một lần, tôi đến Nữu-ước. Gặp đúng lúc mưa tuyết lớn, mà bắt buộc chúng tôi phải đi đến chùa Đại Thừa. Tôi bèn nói với một người đệ tử như sau: 'Trên đường đi tôi không cho phép tuyết rơi, nếu như có chuyện tuyết rơi, tôi phải phạt anh quỳ trước Phật bốn mươi chín ngày, không cho ăn, không cho uống, không cho cả đại tiểu tiện," làm cho vị đệ tử này hết sức hãi sợ. Quả nhiên, trên khoảng đường lộ chúng tôi đi qua, chu vi cỡ ba dặm không có tuyết rơi, còn ngoài ba đặm đó tuyết vẫn rơi đều. Riêng tôi, đức không đủ để cảm phục người, đạo không đủ để giáo hóa người, chẳng có tư cách làm Sư phụ của các vị. Nhưng nay quý vị đã quy y Tam Bảo, nhất định là phải phát nguyện thành Phật. "Phàm ai đã quy y với tôi, nếu chẳng thành Phật thì tôi cũng chẳng thành Phật," đó là lời nguyện của tôi. Quý vị là đệ tử của Tam Bảo, thì ai đánh ta ta phải nhẫn, ai mắng ta, ta cũng nhẫn, Sư phụ của quý vị thì chẳng dám làm gì ngoài việc cúi đầu, đâu đâu cũng chịu lép vế, chớ không chiếm tiện nghi đối với người khác. Cho nên, đã là tín đồ Phật giáo, quý vị chớ có gây sự phiền phức, để cho lụy dến Sư phụ quý vị không thành Phật được. -------------------------------------------------------------------------------- 27. Hằng Lai Pháp sư [^] Phật giáo tại Mỹ mới bắt đầu hưng khởi, nên tại Vạn Phật Thành mỗi người trong chúng ta phải nghĩ tới trách nhiệm làm cho Phật pháp hưng thịnh. Tôi thì chuyên phụ trách về vật liệu xây cất. Có một hôm tôi lái chiếc xe chở hàng cũ đi hơn 160 dặm để mua dầu. Trên đường về, các thùng dầu chất đầy trên xe, tính ra hơn 150 gallons (600 lít). Chở dầu thì rất kỵ lửa, đụng lửa thì thiêu rụi hết, con đường núi mà tôi chạy xe lại rất nhỏ hẹp, gập ghềnh khó đi. Rủi lúc đó bình điện của chiếc xe hàng cũ kỹ đột nhiên bắt lửa, lửa bắn tứ tung lên trên các thùng dầu, tiếng nổ như lựu đạn truyền tới tai tôi. Tôi quay ra sau nhìn, thì rõ là nguy hiểm vô cùng, nếu vô tình chạm mạnh thì nổ tung cả người và xe. Tôi vội vàng cho xe ngừng lại bên lề đường. Trong lúc đương nguy cấp, có một vị làm quản lý công viên thấy vậy tức khắc đem cho tôi một bình chữa lửa, dập được ngay chỗ cháy cho nên không dẫn tới sự kinh hoàng. Sự tình xảy ra, từ đầu đến cuối, không quá 30 giây. Tôi cảm thấy đúng là Phật và Bồ-tát đã gia hộ tránh cho tôi qua được tai nạn hiểm nghèo. Những sự tích kỳ diệu này ghi lại rất nhiều tại Vạn Phật Thành, thật là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn! -------------------------------------------------------------------------------- 28. Mỗ pháp-sư [^] Hôm nay chúng tôi tới Hương Cảng mua sắm các thứ. Xe buýt mà chúng tôi đi nhờ suýt nữa bị nạn đụng xe. Tại Vạn Phật Thành có rất nhiều người bị tai nạn xe hơi, nhưng tất cả đều may mắn, rủi hóa may. Cư sĩ Quả Châu (David Rounds) có một lần bị đụng xe, xe nát mà người an toàn, nguyên nhân là ông ta niệm chú Lăng Nghiêm. Lại có một lần cư sĩ Quả Tôn lái xe ở ngoại thành đụng phải một con nai, lúc đó ông ấy cho rằng con nai chắc chắn phải chết, và xe thì hư hại. Có dè đâu con nai ở dưới xe, liền đứng dậy và bỏ chạy còn xe thì vẫn chạy tốt. Nguyên nhân là đương lúc đó ông niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài là vị cứu khổ cứu nạn. Tại Vạn Phật Thành, chúng ta chuyên thờ phụng Quán Thế Âm Bồ Tát, tu pháp môn Đại bi, và Vạn Phật Thành cũng là đại bản doanh của Ngài nữa. Tuy nhiên, không phải Quán Thế Âm Bồ Tát chỉ cứu độ riêng cho một địa phương nào, mà trong khắp hư không pháp giới Quán Thế Âm Bồ Tát đều nghe tiếng kêu mà đến cứu độ. Ngày 14 tháng 12 năm 1981 -------------------------------------------------------------------------------- 29. Bạch Vũ Trụ [^] Băng thiên tuyết địa, vô số điều tế trùng, đống tệ thả chập miên, tĩnh lý quan sát, động trung thẩm đế, long tranh hổ đấu thường du hý, quỷ khốc thần hào ảo hóa kỳ, chân thực nghĩa tuyệt ngôn, bất tư nghị, đương tiến xu, đại tiểu mẫn, nội ngoại phi, vi trần biến, pháp giới châu, hốt luân cá viên dung, hỗ tương vô ngại, song quyền đả phá hư không cái, nhất khẩu thôn tận sát hải nguyên, đại từ bi phổ độ, lưu huyết hãn, bất hưu tức. Hôm nay tôi muốn cùng quý vị giảng bài Vũ Trụ Bạch. Tại sao gọi là Vũ trụ Bạch? "Vũ" tượng trưng cho bốn phương và hai hướng thượng và hạ. "Trụ" là bao quát từ cổ chí kim, vũ trụ hợp lại chính là thế giới, gọi bằng một tên khác. Bài này cùng với bài "Mãn Giang Hồng" của Nhạc Phi cũng na ná tương ưng với nhau. Năm xưa Nhạc Phi cùng với quân Kim đại chiến, máu nhuộm Trường-giang, do đó ông làm bài "Mãn Giang Hồng," còn truyền lại đến ngày nay. Còn bài "Vũ Trụ Bạch" được làm tại Chùa Kim Sơn ở San Francisco. Cái vũ trụ trắng này chẳng phải chỉ riêng có giang bạch, sông trắng, mà toàn thể vũ trụ đều là trắng cả. Sao lại nói là vũ trụ trắng vậy? Số là Kim Sơn Thánh Tự cũng giống như một cái hộp tuyết lớn, băng giá. Trong phạm vi nhỏ thì cả Chùa là một tòa nhà lạnh lẽo, còn trong phạm vi lớn thì có thể nói rằng cả cái thế giới biến thành màu trắng, không có một mầu đen nào, và từ đó có đề của bài này. Năm 1972, Chùa Kim Sơn từng cử hành pháp hội lần đầu, tụng Lục Đại Minh chú. Pháp hội kéo dài liền bảy ngày đêm, có chừng hơn sáu mươi người tham gia, ngày đêm 24 giờ thay nhau niệm sáu chữ "Án ma ni bát di hồng." Mục đích để làm gì? Cầu nguyện cho hòa bình thế giới, hóa giải bớt hoặc miễn trừ tai nạn cho thế giới. Số là thời đó có tiếng đồn loan truyền rằng San Francisco sẽ bị tai nạn động đất lớn, cho nên mọi người rất là thành tâm trì tụng Lục Đại Minh chú, cầu cho không xảy ra tai nạn, cho nên ngày đêm liên tục luân phiên niệm tụng, quyết cùng thiên ma ngoại đạo giao đấu một phen không lơ là. Tất cả đều tinh tấn vô cùng, tôi tuy không tham gia, chỉ ở đàng sau đôn đốc mọi người, nhưng tôi cảm thấy hết sức vừa lòng. Ai ai cũng tu trì một cách nghiêm túc, không biết mỏi mệt, tinh thần thì phấn khởi khiến cho tôi vô cùng thỏa mãn. Đối với tôi, điều vui nhất là tất cả đều tu và điều làm tôi không hài lòng hơn cả là các đệ tử của tôi, nhất là giới xuất gia, không chịu dụng công, cốt làm hư dối để che mắt. Đây là điều tôi khinh tởm nhất, điều tôi không bao giờ tha thứ. Bởi vậy khi kỳ pháp hội bảy ngày hoàn tất, tôi viết bài "Vũ Trụ Bạch" để làm kỷ niệm, nay tôi xin mang ra giảng để quý vị nghe. Hay hoặc dở, tôi không quan tâm, mà tôi cũng không rõ, tôi chỉ biết là tôi đã viết ra, vậy thôi. Câu thứ nhất là : Băng thiên tuyết địa -Trời băng đất tuyết: Kim Sơn Thánh Tự, tuy chẳng có tiếng tăm trên thế giới, nhưng ở đất Mỹ ai cũng biết. Kim Sơn Thánh Tự là một tòa tuyết, đất tuyết trời băng, lạnh lẽo băng giá; chẳng những Chùa lạnh, người cũng lạnh. Mọi người đến Chùa đều than: " Người ở Chùa Kim Sơn quá lạnh nhạt, chẳng thấy có chút gì ấm áp cả." Cho nên, đến Kim Sơn Thánh Tự ai cũng đều thất vọng, và quả là không có gì để người ta hy vọng, bởi ở đây tất cả đều lạnh lùng băng giá. Côn trùng cũng chết vì lạnh. Cho nên dùng chữ "băng" tức là lạnh. "Tuyết địa," bởi tuyết tượng trưng cho cái lạnh nhất. Vô số điều tế trùng đống tệ- vô số con trùng nhỏ bị chết lạnh: Không biết là có bao nhiêu những con trùng nhỏ bị lạnh mà chết. Trùng nhỏ là kể cả các vi khuẩn trong cơ thể chúng ta, chúng sống nhờ vào các sinh tố A, B, C, nhưng tại nơi này, người ta không những không có sinh tố A, B, C mà còn phải dụng công trong không khí lạnh lẽo, sao không làm cho chúng chết lạnh? Tuy nhiên, chúng không bị tận diệt, vậy mới có câu: "Thả chập miên," vừa ẩn náu ngủ. Mùa đông trời lạnh, các loại côn trùng tạm thời ẩn náu nằm yên dưới lòng đất, ngủ trong mùa đông gọi là chập miên. Tĩnh lý quan sát -trong tĩnh lặng quan sát: Chính trong thời gian mà mọi thứ đều lặng lẽ, đầu óc cũng tĩnh lặng, không có thất tình lục dục quấy động, chỉ nhất tâm chuyên chú niệm Án-ma-ni bát di hồng, Án-ma-ni bát di hồng... xả thân niệm, thì trong khoảnh khắc, bừng giác ngộ, quan sát, quan sát. Động trung thẩm đế -trong động xét kỹ: Niệm chú thì có lúc đi niệm, có lúc ngồi niệm. Trong lúc niệm không dứt, gặp động thì tâm rành rọt thẩm định một cách kỹ càng ý nghĩa Phật pháp. Cảnh giới lúc đó nó sẽ hiện. Rồng đã đến, hổ cũng đã đến! Long tranh hổ đấu thường du hý -rồng tranh hổ đấu thường vui đùa: Rồng thì bay lượn trên mây, hổ thì xuyên rừng băng núi. Tới được những chỗ này mà du hí thì thật là vui. Những cảnh giới như thế mà hiện ra trước mắt có thể làm cho hoa mắt chúng ta, bởi vậy mới nói "long tranh hổ đấu thường du hí." Đây chính là cảnh giới hiện ra trong sự tĩnh lặng. Quỷ khốc thần hào ảo hóa kỳ -Quỷ khóc thần gào ảo hóa kỳ diệu: Có quỷ khóc ở đấy, khóc rằng: "A! Tôi chết một cách oan uổng lắm! Mau niệm Phật cho tôi đi! Siêu độ, siêu độ cho tôi đi! Xin từ bi! Đừng nổi nóng với tôi!" Quỷ khóc như vậy đó. "Thần hào," nghĩa là ở đấy thần cũng gào thét, thét rằng: "Mặc kệ nó, Nó mang tội nhiều lắm đó!" Ôi! Hãy coi đó! Hai bên đấu pháp như vậy, biết bên nào nói phải, bên nào nói trái, khiến chúng ta cũng phải hồ đồ. Có điều, quỷ khóc, thần gào, lạ kỳ như vậy chỉ là ảo hóa, hư dối, không thực, cho nên nói "ảo hóa kỳ." Vậy thì, cái gì là chân thực đây? Chân thực nghĩa tuyệt ngôn -nghĩa chân thực lời nói hết: Cái nghĩa chân thực thì chẳng có gì có thể nói ra được. Như câu: "Bổn lai không một vật, lấy gì bám bụi trần." Đây chính là nghĩa chân thực, cho nên nói "tuyệt ngôn." Bất tư nghị -chẳng nghĩ bàn: Chẳng thể tưởng tượng được, tâm chẳng thể nghĩ ra, lời chẳng thể bàn tới. Đương tiến xu -phải bước tới: Tuy nhiên, quý vị vẫn phải tiến bước một cách dũng mãnh để tinh tấn tu hành. Quý vị chẳng thể dừng bước, lạc vào chỗ "ngoan không," bảo rằng cái gì cũng chẳng có, thành ra chẳng còn nghĩ suy, coi như vậy là xong rồi! Buồn ngủ thì cứ ngủ, đói thì cứ ăn, rồi tới khi lâm chung mới ôi thôi! than ôi! Đó là sự lầm lẫn, để cho ngày tháng qua một cách phí hoài. Còn phải tiến bước, dũng mãnh đi tới nữa. Đại tiểu mẫn -lớn nhỏ diệt: Lớn nhỏ, tất cả đều tiêu tan, cái gì cũng chẳng còn. Nội ngoại phi-trong ngoài không phải: Chẳng trong chẳng ngoài, cũng chẳng phải ở giữa, đó là nghĩa chân thực. Pháp giới châu-pháp giới trọn vẹn: Ta thử coi, pháp giới to lớn như vậy, mà không có thứ gì mà không biểu hiện sự chân thực. Pháp giới châu nghĩa là pháp giới trọn vẹn. Hốt luân cá viên dung-cái viên dung nguyên lành: Hốt luân là nguyên lành, cái thể nguyên lành thì không chỗ nào thiếu; viên dung là viên dung vô ngại, hoàn chỉnh không hư xấu. Hỗ tương vô ngại-hai bên không ngại: không chướng ngại với nhau, cái nghĩa chân thực đó là một, cũng là vô lượng, vô lượng là một, một là vô lượng, một và số nhiều, hai bên không chướng ngại với nhau. Song quyền đả phá hư không cái-hai nắm tay phá màn hư không trùm: Dùng hai nắm tay đấm thủng màn hư không che trùm. Quý vị nghĩ hư không cũng có màn che ư? Dù hư không không che phủ, nhưng hãy phá cho hư không tan vụn, cả hư không cũng chẳng còn. Hư không chẳng còn thì đâu có màn che? Sao còn nói lấy song quyền phá thủng màn hư không che phủ? Đây cũng là ý nghĩa trong câu vừa nói trên "bổn lai không một vật, lấy gì bám bụi trần." Nhất khẩu thôn tận sát hải nguyên-Một hớp nuốt tận sát hải: Há miệng nuốt trọn tất cả thế giới nhiều như số vi trần trong sát hải, thế giới này thế giới kia, quốc độ này, quốc độ kia, vô lượng các quốc độ. Vậy là biến thành yêu quái rồi sao? Nếu yêu quái mà làm được thế, thì quá hay rồi, chỉ sợ không làm nổi. Ý nghĩa câu này là nói khả năng buông bỏ bất cứ mọi thứ, giải thoát hẳn, không còn gì trở ngại, nuốt trọn cả thế giới, cho nên mới nói "song quyền đả phá hư không cái, nhất khẩu thôn tận sát hải nguyên." Đại từ bi phổ độ-lòng từ bi rộng lớn độ khắp: Cho niềm vui là từ, gỡ cái khổ cho người là bi. Làm dậy tâm từ một cách vô điều kiện, vận dụng tâm bi trong tinh thần đồng thể-cái tinh thần ta và người là một thể (hưng vô duyên chi từ, vận đồng thể chi bi), cho nên mới nói "đại từ bi." Bây giờ lấy tâm đại từ bi đó độ khắp các chúng sanh, chẳng phải độ riêng một cá nhân, cũng chẳng phải độ riêng những người có duyên với ta. Đối với kẻ vô duyên, tối tăm ương ngạnh, cũng dấy lòng từ bi dùng mọi phương pháp giáo hóa, mang hết chân thành, vận dụng tinh thần đồng thể và tâm thương xót để hóa độ, bố thí rộng rãi sự yêu thương, chừng nào chưa độ được thì chưa ngưng nghỉ, vậy mới nói câu: "Đại từ bi phổ độ." Lưu huyết hãn-chảy máu, mồ hôi: Đem hết tâm huyết giáo hóa chúng sanh. Bất hưu tức-chẳng nghỉ ngơi: Nghĩa là không kể ngày đêm, tận tâm kiệt lực, không có lúc nào nghỉ ngơi. Chẳng sợ khổ, chẳng sợ khó, chỉ biết dấn thân bước tới, không biết lùi. Trên đây là những lời bình giảng bài Vũ Trụ Bạch. Ngày 7 tháng 2 năm 1982 tại Kim Luân Thánh Tự, Los Angeles -------------------------------------------------------------------------------- 30. Mất Thân Người Vạn Kiếp Chẳng Được Lại [^] Hôm nay nói chuyện về ý nghĩa Sám hối trong đạo Phật. Chư Phật và chư vị Bồ-tát không nhìn vào lỗi của chúng sanh, chúng sanh nếu có lỗi và tự làm ngơ đi, Phật cũng chẳng để ý tới. Nhưng tự mình đã tạo nên nghiệp tội thì tới lúc nghiệp chín, tự mình sẽ lãnh đủ quả báo. Chúng sanh giác ngộ thì ít mà mê mờ thì nhiều; sáng suốt thì ít, ngu si thì nhiều. Cho nên chúng sinh nào sáng suốt, giữ phép tắc, sẽ không làm những chuyện điên đảo. Những chúng sanh chân chánh giác ngộ cũng không có tà tri tà kiến, nghĩa là hiểu biết và nhận thức sai lầm. Trong chốn biển khổ mênh mông, không biết đâu là bờ bến, chúng sanh ra đời rồi chết, chết rồi lại sanh, quẩn quanh luân chuyển trong vòng lục đạo, cũng giống như ngày nay nói về các công xưởng hóa học: một linh tánh lớn có thể bị phân chia biến thành những linh tánh nhỏ và ngược lại, linh tánh nhỏ lại có thể kết hợp hóa thành linh tánh lớn. Bởi lý do trên, khi một cá nhân đầu thai thành kiếp thú, chẳng phải chỉ làm một loại thú vật mà còn có thể phân thành, ngựa, trâu, dê, gà, chó, heo, những loại thú tương đối có thân hình không nhỏ, và linh tánh của chúng cũng có chút điểm thông minh. Một cá nhân có thể biến thành bảy loại thú, thì trong quá trình chia cắt về thân thể sẽ có hiện tượng "phân linh," mà đã phân linh thì linh tánh càng giảm bớt, càng phân ra càng giảm đi. Thí dụ ngựa đầu thai biến thành gà vịt, rồi lại biến ra nhỏ hơn nữa. Một con ngựa lại có thể biến ra bảy con vịt và bảy con gà v.v.. Linh tánh bớt đi chừng nào thì càng ngu thêm chừng ấy, trăm ngàn vạn kiếp chưa dễ khôi phục lại. Bởi cớ gì? Bởi vì đã có sự phân khai, như trong quá trình phân tích được thực hiện trong phòng thí nghiệm hóa học, có sự phân ra từng bộ phận, từng thành phần. Một cá nhân đầu thai thành loài muỗi bởi nguyên do tâm địa quá độc ác, lòng tham không đáy, chỉ muốn hút máu của người khác. Tâm tưởng đó còn tồn tại nên mới biến thành loài muỗi, để chuyên việc hút máu. Tuy linh tánh đã bị hóa, nhưng vẫn còn lại chút ít, có như vậy chúng mới biết theo người mà hút máu, ngoài ra không biết gì khác nữa. Muỗi hành động bởi tâm tham, lấy cái đó duy trì sanh mạng, đó là nhân duyên của loài muỗi. Loài kiến càng thì sao? Loại này bẩm sanh ham ăn. Một cá nhân nếu biến thành thân kiến thì phải hóa ra tới tám vạn bốn ngàn con. Quý vị đã thấy loài muỗi, hàng đàn, hàng đàn như vậy. Kiếng càng thì từng ổ, từng ổ, đông không kể xiết. Theo nguyên tắc "tánh hóa linh tàn," nên thân phận loài kiến rất là nhỏ nhoi, sức vóc chẳng có bao nhiêu. Lại nói tới loài ong mật, chúng rất giỏi lấy trộm, tội ăn cắp của chúng nhiều lắm, nguyên do vì kiếp trước chúng có lỗi không giữ giới cấm về trộm cướp. Đối với loài muỗi, loài kiến, kiếp trước của chúng cũng vậy, không trì giới trộm cướp. Tuy nhiên loài ong còn nặng hơn cho nên chúng rất giỏi nghề ăn trộm mật. Mật của người ta, nếu không trông coi, không có ong thợ hay ong mật ở đấy canh gác, thì hết đàn ong mật nọ đến đàn ong mật kia kéo đến hút cho kỳ hết mật. Ong thích các đồ ngọt, cho nên ong lấy mật về, làm tổ, tích trữ mật tại ngân hàng của chúng. Tổ ong chính là ngân hàng của loài ong đó. Bởi vì ong chỉ biết rằng loài ong sinh sống bằng mật, đường, cho nên chúng phải xây tổ để trữ mật, tựa như người ta phải để dành tiền vậy. Tuy nhiên, chúng cứ việc tích trữ mật, tích trữ cho nó nhiều, rồi cuối cùng mật bị người ta lấy mất. Vì lý do gì? Bởi chúng phạm giới cấm về tội đạo tặc, của lấy về bất thiện thì của đi ra cũng vậy, cái gì mà lúc lấy về không được quang minh chánh đại, thì rốt cuộc cái đó sẽ mất tiêu. Đem các thí dụ về ba loại động vật tí hon này để nghiên cứu, tức là các loài muỗi, ong và kiến, chúng ta mới thấy rõ là không nên phạm các giới cấm sát sanh, đạo tặc, tà dâm, nói dối. Giới cấm uống rượu cũng vậy. Số là uống rượu vào thường hay tạo nên những hành động hồ đồ. Hồ đồ như thế nào? Nguyên có một vị đã thọ ngũ giới, và y giữ giới rất cẩn thận, nhưng có một hôm y nẩy ra ý muốn uống rượu. Y tự bảo mình rằng: "Trong năm giới thì sát sanh, đạo tặc, tà dâm, nói dối đều là trọng yếu, còn như giới về rượu thì quá bình thường, giữ giới này mà làm gì? Giới này là thừa. Thôi! Từ nay không giữ giới về uống rượu nữa. Ta đi uống chút rượu chơi." Nói rồi, y đi mua một bình rượu về, rót ra uống một mình. Y cảm thấy uống như vậy mà không có đồ nhắm thì cũng vô vị, bèn đi ra kiếm một cái gì để làm mồi rượu. Đúng lúc đó y thấy một con gà của hàng xóm chạy qua, y có ý nghĩ như sau: "Đây có lẽ là Bồ-tát giúp cho ta món đồ nhắm này!" Quý vị thấy! Ý nghĩ của y quả là xằng bậy, tà tri tà kiến! Y bắt lấy con gà đó, giết đi để ăn thịt, tức là y đã phạm giới sát sanh và đạo tặc. Sau đó người hàng xóm kiếm gà đi ngang qua thì y đã uống say, lại còn trả lời một cách lung tung: "Chẳng thấy gà nào hết!" Vậy là y đã phạm giới cấm về nói dối. Y thấy người phụ nữ này khá xinh đẹp, y phạm thêm tội cưỡng dâm. Các vị hãy lưu ý! Nguyên do chỉ vì uống chút rượu mà đến nỗi phạm cả năm giới như vậy. Hãy xem mấy đứa nhỏ retarded (si ngốc), chúng đều từ các nẻo thú vừa đầu thai lên làm người, nên chúng không có trí huệ. Tuy từ linh tánh nhỏ biến ra linh tánh lớn, khôi phục lại kiếp người, nhưng vì ở trong cảnh giới thú vật quá lâu, nên trí huệ bị lu mờ, cho nên kiếp này không những không biết nói, cũng không biết nghe, thì nói gì tới vấn đề giữ quy tắc. Bởi các lý do đó mọi người phải nhận cho rõ ngũ giới là điều thiết yếu. Mỗi một giới có năm vị thiện thần ủng hộ, nếu không giữ giới, các vị thần sẽ bỏ đi, nhường chỗ cho năm ác ma. Phạm giới thì ác ma tới, không phạm giới ác ma không tới. Tại sao ma không tới? Bởi vì đã có các thiện thần hộ trì, do đó chúng ta nên đặc biệt giữ giới cho cẩn thận. Chẳng giữ giới tức chẳng tu hành, biết giữ giới tức có thể y giáo phụng hành, tức khiến chúng ta có được trí huệ chân chánh, không bao giờ điên đảo, không bao giờ xẩy ra chuyện ăn mặn và phá giới. Cho nên người tu đạo phải tự khắc phục được mình trong từng giờ từng khắc, khéo mà khống chế bổn thân, căn cứ trên sáu căn mà hạ công phu. Như khi mắt đối diện với sắc thì bị sắc trần chuyển - tức bị lung lạc, tai nghe âm thanh bị thanh trần chuyển, lưỡi nếm vị bị vị trần chuyển, mũi ngửi hương bị hương trần chuyển, thân thể bị xúc trần chuyển, ý thì bị pháp trần chuyển - có nghĩa là bị sáu tên giặc ở sáu cửa lôi đi, làm cho linh khí ở bên trong chúng ta bị cướp mất. Nếu quý vị không bị chuyển, linh tánh không bị mất, cái đó người ta nói là trí huệ. Bài kệ nói rằng: Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não Nguyện đắc trí huệ chân minh liu Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ Thế thế thường hành Bồ-tát đạo. Tam chướng tức là nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng. Nghiệp chướng gồm những nghiệp thiện ác mà chúng ta đã tạo tác từ kiếp trước, nay hiện thành những chướng ngại mà chúng ta gặp trong kiếp này; các sự việc không xứng ý đến với chúng ta đều phát sanh từ các loại nghiệp chướng đó. Báo chướng là các loại khổ báo gồm cảnh địa ngục, quỷ đói, súc sanh. Có câu: "Giả sử trăm ngàn kiếp, nghiệp gây ra chẳng mất, khi nhân duyên hội ngộ, lại lãnh đủ quả báo," bất cứ mình tạo nghiệp gì, thì sẽ lãnh quả báo về nghiệp ấy, không có cách gì thoát được nghiệp đó. Cho nên lại có câu: "Mọi thứ mang không được, duy nghiệp được tùy thân." Kiếp trước ta làm sai nhân quả, kiếp này ta lãnh quả, như vậy gọi là báo chướng. Phiền não chướng gồm tham dục, sân khuể (tức giận) và ngu si. Mỗi cá nhân đều có phiền não riêng của từng người, người có ít, người có nhiều. Như không có phiền não, tức không có tham sân si, vậy đáng là bậc thánh nhân. Nếu như chưa dứt hết vô minh, gốc phiền não vẫn còn tồn tại, nó sẽ tùy lúc, tùy cảnh ngộ mà phát khởi, lúc đó cái gì cũng quên, khiến người ta có thể làm những chuyện thương luân bại lý trái lương tâm. Phiền não mà không trừ bỏ sẽ làm chướng ngại căn Bồ-đề, do đó có câu: "Ngọn lửa lăn tăn, thiêu rụi rừng Bồ-đề," bất luận tu hành đến đâu mà phiền não không đoạn trừ, thì cái gì cũng là giả tạm. Bởi đó, tại ngay cửa sáu căn, ta đừng để cho ngoại cảnh chuyển đổi, mà chính ta phải chuyển đổi ngoại cảnh, phải biến phiền não thành Bồ-đề, biến sanh tử thành Niết-bàn. Ta phải ý thức rõ cái "túi da hôi thối" này, cái nhục thể kết hợp với thần thức mà ta coi cuộc hôn phối sẽ mãi mãi bền vững; nhưng, đến phút chót nó cũng sẽ bỏ ta, cùng ta ly khai luôn. Mình cũng không biết sẽ đi về đâu. Tu đạo là để làm gì? Chính là để chuẩn bị lúc nhục thể sắp sửa phân ly, chúng ta biết chúng ta sẽ đi đâu, mà không bị cái túi da hôi này khống chế, chúng ta đi về trong sự tự do. Vì cái đó mà ta tu đạo. Muốn cho thành tựu đạo nghiệp, chúng ta phải thâu nhiếp thân tâm một cách thường xuyên, từng bước y theo quy củ phép tắc, không để cho ngoại cảnh tại các cửa lục căn lôi kéo. Lúc đó, quý vị đã có định lực rồi. Có định tức có thể phát huy trí huệ. Tuy nhiên quý vị phải nhớ rằng định là do sức mạnh của giới mà sanh ra, mà giới lại là "chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành," hy sinh tiểu ngã và hoàn thành công đức tu tập tinh thần đại ngã, đó là Phật pháp chân chánh, là tông chỉ của tôi. Các vị hãy thử theo tôi học tập. --- o0o --- | Mục Lục | | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | --- o0o --- | Thư Mục Tác Giả | --- o0o --- Vi tính : Diệu Nga - Samuel -------------------------------------------------------------------------------- Webmaster:quangduc@quangduc.com Trở về Trang Phật Học Cơ Bản Đầu trang Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ: quangduc@quangduc.com Cập nhật ngày: 01-02-2002

quangduc.com

Tiếng Việt Trang nhà Quảng Đức Tiếng Anh Phật Học Cơ Bản -------------------------------------------------------------------------------- ...... ... . Khai Thị Đại Sư Tuyên Hóa Việt dịch: Ban Phiên Dịch Đại Học Pháp Giới, Vạn Phật Thánh Thành --- o0o --- Phần 01 1. Thần Chú Đại-bi, Nhiệm Mầu Không Thể Nghĩ Bàn 2. Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát 3. Niệm Quán Âm Trong Tự Tánh 4. Tu Hành Phải Biết Hồi Quang Phản Chiếu 5. Tại Sao Chúng Ta Phải Vào Thất Quan Âm? 6. Niệm Quán Âm Cứu Kẻ Lâm Nạn 7. Chuyện Người Đá Cầu Pháp 8. Di Cư Đến Thế Giới Cực Lạc 9. Vạn Phật Thánh Thành Tẩy Rửa Thân Tâm 10. Càng Niệm Quán Âm Càng Bớt Vọng Tưởng --- o0o --- 1. Thần Chú Đại Bi. Nhiệm Mầu Không Thể Nghĩ Bàn [^] Hôm nay bắt đầu vào thất Đại Bi. Buổi tối sau l sái tịnh sẽ tụng Đại Bi Thần Chú. Trong quá khứ, số chư Phật nói chú này nhiều bằng chín mươi chín ức số cát sông Hằng và Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát vì thương hết thảy mọi loài chúng sanh, nên phát tâm đại bi, cưỡi thuyền từ bi trở về cõi Ta-bà để cứu độ tất cả chúng sanh ra khỏi cảnh khổ ách. Có câu: "Bể khổ không bờ, quay đầu là bến," chỉ cần chúng ta kiền thành trì tụng Đại-bi Chú ắt sẽ thấy ứng nghiệm, không thể nghĩ bàn. Trước đây trong vô lượng kiếp, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát được Thiên Quang Vương Tĩnh Trú Như-lai diễn pháp Đại-bi Thần Chú cho nghe, lấy bàn tay sắc vàng xoa đầu, khiến Ngài, khi nghe xong liền chứng được quả vị Bồ-tát bậc Bát-địa. Ngài liền sanh tâm đại hoan hỷ rồi lập tức phát nguyện lớn như sau: "Nếu tôi có thể làm lợi ích hết thảy chúng sanh, thì xin cho tôi có ngay ngàn tay và ngàn mắt." Phát nguyện xong, hốt nhiên trái đất chấn động, hào quang phát ra từ chư Phật mười phương chiếu sáng thân Ngài, rồi ngàn tay và ngàn mắt tức khắc trang nghiêm thân tướng của Ngài. Tay thì có thể nâng đỡ, mắt thì có khả năng chiếu soi. Ngàn tay và ngàn mắt tượng trưng cho vô số thần thông và trí huệ. Ý nghĩa của đại bi. Căn cứ câu: "Bi năng Bạt khổ," bất cứ ai gặp phải mọi cảnh khổ nạn, nếu thành tâm tụng Chú Đại-bi đều có thể được bình an, chuyển hung thành cát. Ngài Quán Thế Âm bạch Phật rằng: "Nếu như chúng sanh trì tụng Đại-bi Chú mà không được mãn nguyện, thì xin thề không thành chánh giác, trừ phi nguyện ước của họ bất thiện hay không thành tâm trì tụng." Trì tụng Đại-bi Chú không những được tự tại, mà các điều cầu mong còn được thành tựu, có thể tránh được khổ ách tai nạn và được vui sướng an lạc; vượt qua mọi hiểm nghèo, tới chỗ bình an vô sự. Làm sao có thể xa lìa khổ ách? Phải tụng Đại-bi Chú. Làm sao thoát khỏi hiểm nghèo? Phải trì tụng Đại-bi Chú. Chớ có coi Đại-bi Chú là tầm thường hay đơn giản. Tôi xin nói với quý vị rằng nếu quả trong đời quá khứ và hiện tại quý vị không có căn duyên tốt lành thì ngay đến cả cái tên của Chú Đại-bi cũng chưa được nghe, đừng nói tới việc trì tụng. Nay không những quý vị được nghe biết tên của Chú lại còn được trì tụng Chú với một lòng chí thành như vậy, thật là một cơ hội trăm ngàn vạn kiếp mới có một lần, rồi lại được thiện tri thức chỉ dẫn, cách thức đọc tụng, thọ trì, tu trì nữa. Thật đáng cho quý vị coi trọng! Tóm lại, Đại-Bi Chú có những lợi ích không thể nghĩ hết được. Trong thời gian bẩy ngày này, chúng ta nên thành tâm thành ý, rất mực cung cung kính kính trì tụng Chú Đại-Bi, tụng cho tới độ tâm không vọng tưởng. Lúc đó, lòng lắng trong, hoặc giả có người thấy hào quang, có người thấy hoa xuất hiện, có người được Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát rờ đầu, giúp cho khai mở trí huệ. Hoặc giả có khi ngửi thấy mùi hương lạ, cũng có người dù đã tha thiết chí thành trì tụng, nhưng cũng chẳng thấy một hiện tượng gì khác lạ. Dầu có hay không cũng chớ có nản lòng, cứ hết sức dốc một lòng trì tụng. Khi nào thời khắc tới, sẽ nhất định chứng kiến cảnh giới "cảm ứng đạo giao," xuất hiện ngay trước mắt. Bất luận thấy cảnh giới nào, hay chẳng thấy gì hết, việc chánh vẫn là tinh tấn trì tụng. Kẻ thấy điềm lành chẳng nên chấp vào tướng lành đó. Kẻ không thấy điềm gì cũng đừng sanh lòng tự ti mà tự bảo rằng: "A ! Vậy là ta chẳng có thiện căn, sao ta chẳng thấy Bồ-tát?" Thiện căn có khi sớm kết thành quả, có khi thì muộn. Nếu như có cảm giác thiện căn của mình chưa đến lúc thành thục, thì ta phải tiếp tục bồi đắp, làm thêm nhiều công đức nữa mới được. Người ta nói: "Chưa trồng căn lành, phải trồng căn lành, đã trồng căn lành, khiến nó tăng trưởng; đã tăng trưởng rồi, khiến nó thành thục; đã thành thục rồi, khiến tới giải thoát." Quý vị lần đầu tới Kim Sơn Thánh Tự, nghiên cứu Phật pháp, tu tập Phật pháp, phải dốc lòng thành học tập, không ngại khổ, không ngại khó. Nơi đây trong vòng bảy ngày, nên dũng mãnh tinh tấn, xa lìa vọng tưởng. Nếu lại vừa học tập, vừa nghĩ ngợi lung tung, công phu không thể chuyên nhất được. Tâm không chuyên nhất thì khó lòng sanh cảm ứng. Đó là một điều, quý vị phải đặc biệt chú ý! Những lợi ích của công phu trì tụng Đại-bi Chú, nói ra không thể hết được. Phàm ai đã trì tụng Đại-bi Chú thì tuyệt đối chẳng bị đọa vào ba đường ác. Nếu bị đọa vào các đường ác đó thì Ngài Quán Thế Âm nguyện chẳng bao giờ thành Phật. Phàm ai ngu si mà trì tụng Đại-bi Chú, nếu chẳng biến thành kẻ trí huệ, Ngài Quán Thế Âm cũng nguyện chẳng thành Phật. Thần Chú Đại-bi lại có thể trị tám vạn bốn ngàn loại tật bệnh của thế gian. Ai bị bệnh nan y, cho đến các y sĩ, Tây y hay Đông y phải bó tay, nhưng nếu thành tâm trì tụng Đại-bi Chú cũng nhất định chẳng uống thuốc mà được khỏi bệnh. Thần hiệu của Đại-bi Chú thật không thể nghĩ bàn! Tại Kim Sơn Thánh Tự có người đã từng được sự ứng nghiệm như vậy. Chữa trị chứng ung thư chẳng phải là chuyện dễ dàng, vậy mà trì tụng Đại-bi Chú khiến cho bệnh tiêu tan. Thần lực của Chú Đại-bi thật mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Chỉ cần xem công phu của quý vị trong bảy ngày ra sao, ai thành tâm, người đó sẽ thấy ứng nghiệm, được lợi ích. Ai có bệnh, bệnh sẽ lui. Ai không bệnh, thì trí huệ được khai mở. Cầu chuyện gì được chuyện đó, cho nên Đại-bi Chú gọi là bất khả tư nghì quảng đại linh cảm, vô ngại Đại Bi Tâm Đà-La-Ni. Chữ Đà-La-Ni (Dharani) dịch nghĩa là tổng trì, tổng nhất thiết pháp, trì vô lượng nghĩa, cũng gọi là chú, hoặc gọi là chân ngôn. Tóm lại đó là những chữ mật. Mật chú gồm có bốn ý nghĩa sau: Trong bài chú có tên vua các loài quỷ thần, nên phàm tiểu quỷ nghe đến tên này thì không dám làm bậy và phải tôn trọng phép tắc, Chú được coi như khẩu lệnh trong quân đội, nếu vi phạm ắt sẽ bị trừng trị, Chú có thể âm thầm tiêu trừ nghiệp tội mà chính mình không hay biết, Chú là ngôn ngữ bí mật của chư Phật, chỉ có chư Phật mới hiểu được mà thôi. Quý vị lần này tới tham dự pháp hội Đại-Bi, đều có sẵn căn lành cả, đức hạnh đầy đủ lại được nhân duyên thành thục nên mới tới Chùa Kim Sơn Tự. Hy vọng rằng một khi đã vào tới "Bảo sơn" rồi thì không đến nỗi tay không trở về, tất phải được bảo vật để dùng cho mình. Bảo vật gì? Chính là Chú Đại-Bi. Đại-Bi Chú có thể trị bệnh, có thể hàng phục loài ma, có thể khai mở trí huệ, có thể mang lại sự bình an, hay nói cách khác, cầu việc gì được việc ấy, nhất định toại lòng xứng ý. Kỳ pháp hội Đại-Bi này còn đặc biệt hơn nữa là tại Trung-quốc rất hiếm có khóa tụng Đại-Bi có tính cách kỷ lục, kéo dài cả bẩy ngày luôn như vậy. Tại các nước khác người ta có niệm Chú Đại-Bi trong bẩy ngày không, điều này tôi không biết, nhưng tại Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là lần đầu tiên. Mong tất cả quý vị hết sức chân thành trì tụng Đại-Bi Chú, công đức vô lượng! Ngày 9 tháng 4 năm 1976, tại Kim Sơn Thánh Tự -------------------------------------------------------------------------------- 2. Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát [^] Ngày hôm nay, quý vị tập họp tại đây, dự Quán Âm thất, để cùng nhau niệm thánh hiệu: Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Đây là một dịp quý báu, hy hữu, chớ có uổng phí thời gian. Nếu như có lòng coi thường thì sẽ chẳng ích lợi gì, như người đã vào tới Bảo Sơn mà trở về tay không, rất là đáng tiếc. Mong rằng quý vị buông bỏ hết mọi thứ để dũng mãnh niệm với một lòng tinh tấn, nhất định quý vị sẽ thấy cảm ứng, và có như vậy mới không cô phụ mục đích tổ chức Quán Âm thất này. Bình thường khi vào thất Quán Âm, phần đông đều niệm Phật, niệm Bồ-tát, sau đó nghỉ nửa giờ rồi mới tiếp tục công phu. Tại Hương-cảng hay Đài-loan, đại khái mọi người niệm theo cách thức đó. Chúng ta ở Vạn Phật Thành này sẽ niệm một cách liên tục, không ngưng nghỉ, luôn một mạch từ sáng sớm tới tối, ở giữa không có thời gian nào nghỉ cả. Quý vị nên biết rằng, chẳng phải chúng ta không nghỉ ngơi mới đúng, hay mọi người nghỉ ngơi là sai. Nói như vậy nghĩa là sao? Bởi vì chúng ta từ trước tới nay chưa hề dụng công, cho nên bây giờ phải hết sức tinh tấn, ráng hết sức để mà tiến tới. Còn như người khác thì họ đã dụng công từ lâu rồi, họ đã vào đạo, họ niệm Quán Thế Âm Bồ Tát hay không niệm cũng vậy thôi, họ đều không có vọng tưởng, do đó họ nghỉ ngơi còn hơn chúng ta tinh tấn. Giả sử chúng ta lại sanh tâm ngã mạn nghĩ rằng: "A! Chúng ta ở Vạn Phật Thành tu hành rất là dũng mãnh và tinh tấn, còn người ta thì giải đãi, lười biếng." Nếu có ý nghĩ đó thì tất cả công đức của chúng ta đều bị tiêu ma. Đó chính là tâm tự mãn, tâm kiêu ngạo. Chúng ta nên hiểu rằng họ đã dụng công tu hành từ vô lượng kiếp, nay họ nghỉ ngơi chính là chờ đợi số người của chúng ta đương lẽo đẽo theo sau. Nghĩ được như thế thì đúng, và dụng công mới có kết quả tốt, chớ không thể dụng công mà nẩy sanh tâm chướng ngại. Tâm chướng ngại chính là lòng tự mãn, lòng kiêu mạn, có thể phương hại tới hạt giống Bồ-đề. Chúng ta dụng công phải ghi nhớ điểm này. Bất luận trong trường hợp nào, phải tránh cho kỳ được tâm cống cao, ngã mạn, và tránh có ý nghĩ ích kỷ tự lợi, mà phải theo đúng câu: "Pháp là bình đẳng, không có cao thấp," đó chính là châm ngôn của kẻ tu hành. Khởi đầu dụng công, chúng ta phải giữ tâm cho chánh đáng. Không chánh đáng thì dù công phu ra sao cũng thành ma đạo. Tâm đã chánh đáng, thì dụng công cách gì cũng có thể thành Phật. Con đường dẫn tới Phật hay tới ma chỉ khác nhau ở một niệm. Quý vị hãy đặc biệt chú ý. Tại sao chúng ta phải niệm: Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát? Bởi vì đối với chúng sanh ở cõi Ta-bà Ngài đều có nhân duyên. Ngài là vị Bồ-tát tầm thanh cứu khổ và cứu nạn. Có người nghĩ rằng: "Khi nào chúng ta gặp khổ và gặp nạn chúng ta mới cần cầu Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, bây giờ không gặp cảnh khổ cũng không gặp cảnh nạn thì niệm danh hiệu của Ngài làm gì?" Nói vậy hóa ra chúng ta chẳng khổ chút nào ư? Đây là ngũ trược ác thế -kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mệnh trược, các chúng sanh đều bị khổ cả, khổ không thể nói hết. Rồi trong vòng luân hồi, các chúng sanh lên lên xuống xuống, vậy mà không phải khổ sao? Một ngày, từ sáng tới tối trong tâm toàn là vọng tưởng thôi thúc, đấy chẳng phải là cảnh khổ ư? Rồi lo âu cho riêng mình, muốn có lợi cho riêng mình, nhưng lo không được thì ngủ không an; cầu chẳng được thì ăn không ngon. Vậy mà nói là chẳng khổ ư? Ai dám đoan quyết rằng mình chẳng khổ? Họ chẳng khổ vì điều này thì lại khổ vì điều khác, tóm lại khổ bất ly thân. Trừ phi vạn sự đều buông bỏ, chẳng cầu điều gì họa may mới không khổ. Chúng ta niệm câu Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, thì trước hết chúng ta phải hiểu ý nghĩa câu này. Nam mô là tiếng Phạn, có nghĩa là quy mạng, Quán là quán sát, lấy diệu quan sát trí để quán sát. Ai có diệu quan sát trí? Ngài Quán Thế Âm, vì Ngài có loại trí huệ đó, cho nên đối với hết thảy mọi âm thanh của thế gian Ngài đều hay, đều thấy, không hề bị lầm lẫn. Chữ Thế là chỉ thế gian. Âm là âm thanh. Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát tu pháp môn phản văn văn tự tánh, cho nên Ngài dùng tâm để quán sát tiếng kêu cứu của các chúng sanh trong thế gian. Khi Ngài nghe được sẽ tức khắc phân thân đến nơi để cứu độ nạn nhân ra khỏi bể khổ, thoát được khổ và được vui sướng, cho nên có câu kệ rằng: Thiên xứ kỳ cầu thiên xứ ứng, Khổ hải thường tác độ nhân chu. Nghĩa là: Ngàn nơi cầu, ngàn nơi ứng, Ngài là thuyền vớt người trong bể khổ. Bồ Tát Quán Thế Âm cũng giống như các bậc mẹ hiền, con cái cầu mẹ thì sẽ được mẹ cứu, không dến nỗi bị thất vọng bao giờ. Cho nên Ngài có danh hiệu là Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát. Chữ "Bồ-tát" có một nửa là tiếng Phạn, nói cho đủ là Bồ-đề-tát-đỏa [Bodhisattva], dịch nghĩa thành Giác-hữu-tình hay Hữu-tình-giác, cũng nghĩa tương tự. Giác là giác ngộ, hữu tình chỉ chúng sanh. Giác-hữu-tình tức là một chúng sanh trong số người giác ngộ, hoặc kẻ giác ngộ trong số chúng sanh. Bồ-tát thuộc hàng thánh tự giác giác tha - tự mình giác ngộ và giúp người khác giác ngộ - không tự tư tự lợi, một lòng chỉ nghĩ tới hạnh phúc của chúng sanh, mà quên lợi ích của riêng mình. Đó chính là tinh thần vô ngã. Như chúng ta muốn cầu Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát giúp đỡ và phù hộ cho mình thì chúng ta phải thực lòng niệm: Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát, lúc đó trong lòng mới thành khẩn và tác dụng cảm ứng mới phát sanh ra được, lúc đó Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ nghe tiếng kêu cầu và tới nơi để cứu độ chúng ta ra khỏi bể khổ. Ngược lại nếu sự kêu cầu không thành tâm, hay lẫn lộn với những ý tưởng cầu danh cầu lợi, thì chẳng thể có cảm ứng. Nay chúng ta niệm thánh hiệu: Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, ta nên giữ lòng thanh tịnh, niệm một cách khẩn thiết và chí thành, không vì lợi ích riêng tư mà niệm, mà chính vì lợi ích cho tất cả chúng sanh trong cõi ngũ trược ác thế này. Chúng ta cầu Ngài rủ lòng từ bi tế độ, khiến cho toàn thể nhân loại trên thế giới khỏi ách nạn, tội diệt phước sanh, tất cả đều được lợi ích. Tất cả mọi người cùng niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát và cùng hướng theo một tôn chỉ như vậy, ắt sức mạnh cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Nào! Quý vị hãy đem mọi công đức niệm thánh hiệu hồi hướng tới khắp chúng sanh trong pháp giới! Chính là: Nguyện đem công đức này, Hướng về khắp tất cả, Đệ tử và chúng sanh, Đều trọn thành Phật đạo. Khai thị nhân khóa Quán Âm thất tại Điện Quán Âm, Vạn Phật Thánh Thành, từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 10 năm 1981 -------------------------------------------------------------------------------- 3. Niệm Quán Âm Trong Tự Tánh [^] Nay chúng ta chuyên tâm một lòng niệm Ngài Quán Âm Bồ Tát, vậy ta cũng phải niệm Ngài Quán Âm trong tự tánh của chúng ta. Chúng ta phải nghĩ rằng ở bên ngoài có cái gì, bên trong cũng có cái đó, như ở bên ngoài có Quán Thế Âm Bồ Tát thì bên trong cũng có Quán Thế Âm Bồ Tát. Bởi vậy, khi niệm Ngài Quán Âm thì ta phải làm sao niệm cho trong và ngoài là một, không phải hai. Trong tự tánh của chúng ta, đã gồm đủ mọi đức tánh của vô lượng chư Phật đông như số cát sông Hằng, cho nên khi miệng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thì trong lòng cũng phải chí thành tha thiết, mọi tạp niệm đều chẳng sanh, mọi vọng niệm đều dứt bặt, và chỉ nhất tâm chuyên chú vào niệm. Không mong ước điều gì, không tham một sự gì, cũng chớ nên có ý nghĩ: "Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để làm gì?" Phải coi việc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát chính là một tự tánh bổn phận. Chúng ta niệm đến trình độ "niệm mà chẳng niệm, chẳng niệm mà niệm," đó là cảnh giới tự tánh Quán Thế Âm hiện tiền, kết thành một khối, quên người quên mình, như vậy còn chỗ nào là phiền não nữa? Còn chỗ nào là vô minh? Đến cảnh giới vô ngại tự tại thì đại viên kính trí sẽ hiển lộ, bình đẳng tánh trí sẽ hiện tiền, rồi diệu quan sát trí cũng như thành sở tác trí đều đầy đủ. Có đủ bốn trí, nhưng chỉ mới tới giai đoạn đầu, bởi trong bốn trí còn trăm ngàn vạn loại khác nhau tùy theo từng giai đoạn. Chẳng phải mới thấy các trí xuất hiện mà cho rằng chúng cùng với bốn trí của chư Phật là giống nhau. Bất luận ở giai đoạn nào, tới được quả vị nào, thứ bậc không phải nhất loạt ngang nhau. Người tu hành phải hiểu rõ ý nghĩa "sai một ly đi một dặm," phải tự nhắc mình dụng công đi đúng hướng, tránh rẽ ngang, khỏi đi vào bàng môn ngoại đạo, và lầm vào tình trạng tà tri tà kiến. Phải luôn luôn giữ chánh tri chánh kiến, tức chánh niệm mới hiện tiền. Chúng ta niệm Quán Thế Âm Bồ Tát tức là niệm Quán Thế Âm Bồ Tát của chúng ta chớ không phải niệm Quán Thế Âm Bồ Tát của người khác. Thế nào gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát của ta? Chính là ta với Quán Thế Âm Bồ Tát là cùng một thể, niệm như vậy, nghĩa là ta cũng có đức từ bi, cũng có hỷ xả của Quán Thế Âm Bồ Tát, và cũng đầy đủ "bẩy nạn, hai cầu," cũng ba mươi hai ứng thân như Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát. -------------------------------------------------------------------------------- 4. Tu Hành Phải Biết Hồi Quang Phản Chiếu [^] Người tu hành phải thực tình, phải thật sự tu, phải bỏ công sức ra chớ không thể nhởn nhơ. Có một số người nói họ hành đạo Bồ-tát, nhưng đúng ra là họ cốt biểu diễn cho bà con thấy. Mỗi một cử chỉ, mỗi một hành động, mỗi lời nói ra, họ đều phô trương cho mọi người thấy, chớ không phải cho chính họ thấy. Những người đó cần phải biết hồi quang phản chiếu, còn như chờ người khác trông thấy mới niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, nếu quả có tử tưởng đó thì phải mau mau sửa đổi lại. Phàm kẻ tu hành mà chỉ muốn người khác trông thấy mình tu, chính là bỏ gốc cầu ngọn. Quên cái gốc để chạy theo cái ngọn là chuyện không được. Tu hành là để cho chính mình thấy, trông thấy được mình tức là hồi quang phản chiếu. Nhớ kỹ! Hồi quang phản chiếu, chớ không phải phóng quang ngoại chiếu. Nếu phóng quang để chiếu ra ngoài, tức là chỉ muốn cho người khác nhận thấy, để họ bảo rằng mình là người thật sự tu. Phải biết rằng khi đã phóng quang ra ngoài thì chẳng còn gì nữa, bởi hào quang của mình chẳng có bao nhiêu, một khi phóng ra là hết. Mình chưa tu hành đến độ viên mãn, quang độ yếu ớt, chờ khi nào tu đến viên mãn, lúc đó phóng quang cũng chưa muộn. Bây giờ đang trong giai đoạn tu hành, không nên phóng quang. Việc tu hành cũng giống như việc học. Mới đầu học Tiểu học, tiếp theo là Trung học, sau lên Dại học, rồi sau nữa mới có bằng tiến sĩ. Tu hành cũng như vậy, cứ từng bước một mà tiến lên dần dần, chớ không thể đi theo lối tắt. Có người bảo: Thiền tông đề xướng đốn ngộ, khai ngộ một cách chớp nhoáng. Chúng ta nên hiểu rằng đốn ngộ là nói về lý - cái lý về ngộ ngay tức khắc, nhưng về sự thì phải tu tập dần dần. Đốn ngộ là nói về cá nhân đốn ngộ, chớ không phải nói về thời hạn đốn ngộ, một khi tu là ngộ ngay. Trước đây từ vô lượng kiếp, người ta đã tu rồi, đã từng gieo trồng hạt giống Bồ-đề rồi, lại nỗ lực canh tác, mỗi ngày một ít tích lũy lại, cho tới ngày nào đó công phu mới trổ thành quả chín. Không khi nào có trường hợp chẳng tu mà được khai ngộ. Câu nói: "Lý là đốn ngộ, Sự là tiệm tu" chính là nghĩa này. Tại nơi này chúng ta tham dự thất Quán Âm, chúng ta phải mang hết tinh thần trì niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, chớ không thể lười biếng cầu an, kiếm cớ để tre nải. Nếu như để cho tâm hồn phóng dật, tức là để thời gian qua đi một cách uổng phí, lỡ mất cơ hội khai ngộ, đáng tiếc biết bao! Thất Quán Âm này, xin quý vị hết mình dụng công, pháp hội này chính là một cơ hội hiếm có. Mong quý vị hãy trân quý từng thời khắc, nỗ lực dụng công trì niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, nhất định sẽ có cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. -------------------------------------------------------------------------------- 5. Tại Sao Chúng Ta Phải Vào Thất Quán Âm [^] Chúng ta cần niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ-tát một cách thường xuyên. Kỳ thực đối với người tu hành, thì ngày nào cũng coi như ở trong thất. Còn đối với chúng ta, vì chưa từng dụng công nên mới cần phải định ra một thời gian, để tất cả mọi người tu hội lại, rồi cùng nhau cử hành nhập thất, cái đó gọi là khắc kỳ thủ chứng. Trong vòng bảy ngày này, mọi duyên bên ngoài đều buông bỏ, một niệm chẳng sanh, chuyên tâm nhất chí, trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Niệm danh hiệu của Ngài sẽ có thể lìa mọi tà tri tà kiến đồng thời tăng trưởng chánh tri chánh kiến. Trong lúc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, thì tâm bình hòa, hơi thở đều đặn, tinh thần tập trung. Không nên có ý ganh đua, có tâm cạnh tranh. Ganh đua và cạnh tranh là hành vi của người thế tục. Tu hành là không đua với người đời, không ganh với ai, mọi người đều cùng nhau dụng công. Người nào ráng sức dụng công cũng vậy, cũng coi như chính ta dụng công. Có tư tưởng đó thì hết tranh đua hơn kém. Người tu hành cũng không nên buông lung và sợ vất vả, phải thường xuyên tinh tấn, luôn luôn tinh tấn, tinh tấn từng giờ, từng khắc, từng phút, từng giây. Một phút tinh tấn là một phút cảm ứng; mười phút tinh tấn là mười phút cảm ứng. Chúng ta niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, trong lòng có chân thành chăng? Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát ở trên trông thấy rất rõ. Ai niệm Ngài với một lòng chân thành, người đó sẽ được Ngài gia hộ cho trí huệ sáng suốt, căn lành tăng trưởng, tội ác tiêu diệt, ba chướng diệt trừ - tức nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng, tóm lại hết thảy ác nghiệp đều được tiêu diệt. Bởi vậy, phàm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, ta phải niệm hết sức chân thành. Ai niệm chân thành, kẻ đó được lợi ích; ai niệm không chân thành, tuyệt đối không gặp cảm ứng. Trong thất Quán Âm, có người niệm một cách chân thành, nhưng cũng có người niệm một cách tùy hỷ, mà chưa phải là thật lòng. Thấy mọi người niệm, mình cũng niệm; thấy mọi người chạy, mình cũng chạy; thấy mọi người ngồi, mình cũng ngồi, trước sau chân tâm vẫn không nẩy sanh (chân tâm nghĩa là không có vọng tưởng). Khi niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, không thấy tâm tham, cũng không có tâm cầu, tức là có chân tâm. Không tranh, không ích kỷ, tự lợi, cái đó cũng thuộc về chân tâm. Dụng công với chân tâm, mọi nghiệp chướng đều được tiêu trừ. Tâm không chân, nghiệp chướng vẫn bám riết theo. Cho nên, trong thời gian nhập thất Quán Âm, hay nhất là: "bớt một câu nói, thêm một tiếng niệm." Có câu rằng: Đả đắc niệm đầu tử, hứa nhữ pháp thân hoạt, nghĩa là làm chết tạp niệm thì pháp thân sẽ hiển hiện (sống). Người tu hành, vì chuyện dứt sanh tử, vì mục đích cứu độ chúng sanh mà dụng công tu tập, chẳng phải vì cầu được cảm ứng. Có câu rằng: Tư y Y chí, Tư thực Thực chí; nghĩ tới áo thì có áo - áo đến - nghĩ tới ăn thì có ăn, nghĩ chuyện gì thì có chuyện đó, đây là cảnh giới của chư thiên, nhưng tới lúc phước trời hưởng hết thì lại trở về luân hồi chịu khổ. Người tu đạo nên hướng tới pháp rốt ráo là giải thoát, mới mong ra khỏi được tam giới, mới dứt được phần đoạn sanh tử. -------------------------------------------------------------------------------- 6. Niệm Quán Âm Cứu Kẻ Lâm Nạn [^] Phật tử Quả-Khiêm (Hằng Nhượng) vừa rồi đã kể lại kinh nghiệm chạy nạn từ Việt-Nam, gặp đủ mọi cảnh ngộ hiểm nghèo, tóm lại là thập tử nhất sanh. Chỉ vì nữ Phật tử Quả Khiêm thành tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát nên được Ngài từ bi gia hộ, khiến cho mọi sự bình an, thoát khỏi nơi hang hùm và cuối cùng tới được Vạn Phật Thành để tu hành. Những người chạy nạn từ Việt Nam ở Vạn Phật Thành này đều được nghe nói về chuyện này. Hy vọng họ cũng nói hết những điều bản thân họ đã gặp, công bố cho cả thế giới hay. Ngày sau xuất bản thành sách sẽ lấy tên là "Nạn Dân Thiệp Hiểm Ký." Hiện nay chúng ta ở nước Mỹ, bình an vô sự, chẳng biết thế nào là khổ là nạn, cái đó phải là người đã từng gặp nạn thì mới thể hội hết cảnh thống khổ ra sao. Bởi vậy mong rằng quý vị chớ nên theo lối "lúc bình thường chẳng chịu đốt hương, khi lâm nạn mới ôm chân Phật," lúc ấy chẳng kịp nữa đâu. Chúng ta phải có sẵn tinh thần: "chưa mưa đã chuẩn bị, chưa khát đã đào giếng," "Nghi vị vũ nhi trù mâu, Vô lâm khát nhi quật tỉnh". Tại nơi đây chúng ta niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, chính là cầu nguyện cho các nạn nhân trên thế giới, mong sao cho họ lìa khổ và an vui, thoát ly cảnh khổ ách. Mục tiêu nhập thất của chúng ta nhằm việc cứu vớt các nạn nhân, kéo họ ra khỏi bể khổ, tức là quan thiết tới sanh mạng và sự an toàn của nhân loại vậy. Sứ mạng này lớn lao như vậy nên chúng ta phải dốc lòng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Càng thành tâm bao nhiêu càng giúp được nhiều người bấy nhiêu. Tấm lòng trắc ẩn, ai ai cũng có. Lại nữa, quan điểm của Phật-giáo là phải cứu độ khắp chúng sanh, do đó chúng ta phải xả thân mạng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Tông chỉ của Vạn Phật Thành vốn là cứu độ chúng sanh trên khắp thế giới. Vì sự khổ não của chúng sanh mà hàng ngày chúng ta niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu Ngài với ngàn mắt chiếu soi, ngàn tai nghe vọng, ngàn tay cứu vớt, độ khắp chúng sanh. Chúng ta nay, trong thất Quán-Âm, phải tận lực niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu là lười biếng, tức không có lòng từ bi, và người nào như vậy thì không có tâm đạo đức, sẽ không có công đức và trong tương lai, quả vị thành tựu được rất là hạn hẹp. Chúng ta tu theo pháp đại thừa, phải có tinh thần xả kỷ cứu nhân, cầu hạnh phúc cho chúng sanh, cầu hòa bình cho chúng sanh; chúng ta niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng phải là niệm cho chúng ta, mà là niệm cho các nạn nhân, vì cảnh khổ của họ mà chúng ta niệm. Với tông chỉ như vậy, thì công phu niệm của chúng ta nhất định sẽ mang lại cảm ứng rất lớn lao. Quý vị! Nghe xong câu chuyện của Phật tử Quả Khiêm, mới hay rằng Ngài Quán Âm không phải chỉ là tầm thanh cứu khổ, mà còn bảo hộ cho chúng sanh được an toàn nữa. Ngài chính là chỗ chúng sanh có thể nương tựa. Trong thời gian dự Quán Âm Thất này, quý vị phải thành tâm mà niệm. Thêm một người niệm là thêm một phần kết quả; thêm một phần kết quả là được thêm một địa phương hòa bình, công đức ấy thật là trọng yếu. Chúng ta chẳng cầu cho chúng ta, cho lòng tham của chúng ta, mà cầu hòa bình, cầu an ninh cho toàn thể nhân loại. Ai là Phật tử chân chánh thì nên hành động như vậy, nên trang bị tư tưởng như vậy, nhất định sẽ có Phật và chư Bồ-tát gia hộ. -------------------------------------------------------------------------------- 7. Chuyện Người Đá Cầu Pháp [^] Hôm nay tôi xin kể một câu chuyện có thực. Cách nay khoảng mười năm, có một gã hình dung cổ quái, chẳng phải trắng, chẳng phải đen. Ăn mặc thì lôi thôi, quần áo lam lũ, thân cao khoảng năm feet, người khẳng khiu như que củi, sắc mặt không đổi thay. Ngày đó gã tới cổng lớn của chùa Kim Sơn, rồi ở đấy, gã ngồi tựa lưng vào tường. Gặp phải lúc trời mưa lớn, gã vẫn ngồi yên bất động. Có người bảo gã đi nơi khác, gã vẫn nín thinh không thèm để ý tới. Chừng ba ngày sau, tôi ra cổng chùa coi thử. Gã không hề nói chuyện với một ai, vậy mà gã lại bắt chuyện với tôi. Tôi hỏi gã họ gì, gã đáp: "Họ Thạch." Tên gì, gã đáp: "Tên Nhân" (nguyên văn viết chữ 'nhân' là người). Lại hỏi ở đâu tới thì đáp: "- trên núi xuống." Khi hỏi đến để làm gì thì đáp rằng: "Đến để cầu pháp." Tôi mới bảo: "- đây chúng tôi chẳng có pháp nào để cầu cả, anh đến như vậy sẽ thất vọng." Gã trả lời: "Tôi chẳng bị thất vọng đâu." Hỏi han như vậy xong, gã theo tôi vào chùa Kim-Sơn, rồi cùng theo Đại chúng, khi ngồi thiền, khi ngủ nghỉ, nhưng tuyệt đối gã không ăn, không uống, không cả việc tiểu tiện hay đại tiện, thật là một gã kỳ quái. Ngày ngày gã ngồi yên tọa thiền, không nói năng, không cử động, trông gã tựa hồ như kẻ bị ngộ độc, cũng giống như kẻ đến để ngồi rỡn chơi. Gã dấu trong mình một khúc than củi, hỏi đến thì gã nói dùng khúc than đó để giữ hơi ấm. Gã ở tại chùa trong mấy hôm, hoạt động chung với Đại chúng. Mọi người ở thiền đường dụng công, gã cũng dụng công, khi tất cả lên lầu ngủ, gã cũng lên lầu ngủ. Mọi người sợ gã ăn cắp đồ đạc, nên cho người bố trí canh gác gã, và trong lúc gã ngủ trong nhà thì người gác cũng nghỉ ở ngoài cửa, phòng khi gã mở cửa đi ra thì người gác có thể phát giác ngay được. Bỗng một hôm, không ai thấy gã "người đá" đâu cả. Người gác rất lấy làm lạ, không biết gã dùng cách gì mà đi khỏi Chùa, không ai hay biết. Câu chuyện này chúng ta phải giảng ra sao đây? Người đá còn biết tới Kim Sơn Thánh Tự để cầu pháp, huống chi chúng ta, vốn là vạn vật chi linh mà không cố gắng học pháp, chẳng là đáng tiếc hay sao? -------------------------------------------------------------------------------- 8. Di Cư Đến Thế Giới Cực Lạc [^] Tại Trung Hoa, người ta thường nghe nói câu: "Nhà nhà Quán Thế Âm, nhà nhà Di đà Phật" (gia gia Quán Thế Âm, hộ hộ Di đà Phật). Ngài Quán Thế Âm thật là đặc biệt có duyên với chúng ta, Ngài sẵn sàng rước chúng ta về cư ngụ vĩnh viễn nơi đất Cực Lạc, chẳng phải qua một thủ tục di dân nào. Chỉ cần chúng ta tỏ ra chân thành, một niệm thỉnh cầu, là có thể tới được, tuyệt đối không có gì là phiền phức. Chỉ khi nào không có bằng chứng về "Một niệm chân tâm" thì chúng ta không thể tới thế giới Cực Lạc. Làm thế nào để có bằng chứng về "Một niệm chân tâm?" Thật quá dễ dàng, đơn giản vô cùng! Chúng ta chỉ cần chân thành mang hết tâm ý ra niệm: "Nam mô A-di-đà Phật," hay "Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát" hay "Nam-mô Đại Thế Chí Bồ-tát" là đủ, bởi vì Phật A-di-đà là giáo chủ của thế giới Cực Lạc, còn Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí là những vị phụ tá đứng hai bên. Quý vị đó được gọi là Tây phương Tam Thánh. Bất cứ chúng ta niệm danh hiệu của vị nào, niệm sao cho đến nhất tâm bất loạn, nhất trần bất nhiễm, thì ắt được đoái nghiệp vãng sanh, nghĩa là sanh về nước Cực Lạc dầu ta còn mang nghiệp, từ trong hoa nở ra thấy Phật hay thấy các vị Bồ-tát. Nếu chẳng muốn di cư đến thế giới Cực Lạc, thì khỏi cần niệm danh hiệu Tam Thánh, nhưng còn muốn về Cực Lạc thì phải niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, khi còn sống sẽ được miễn ba tai bẩy nạn, khi chết thì được vãng sanh cõi Tịnh-độ, nhất cử lưỡng tiện, còn gì hay cho bằng. Chúng ta niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, niệm làm sao cho chúng ta cùng Ngài là một, tách nửa cũng chẳng rời ra, như vậy tới lúc lâm chung, dầu không muốn cũng phải sanh về Cực Lạc. Tại sao vậy? Bởi vì một khi gốc rễ đã vững chắc, thì tương lai ắt phải sanh cành sanh lá, nở hoa và kết trái vậy. -------------------------------------------------------------------------------- 9. Vạn Phật Thánh Thành Tẩy Rửa Thân Tâm [^] Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát tại đạo tràng thì rất dễ có cảm ứng. Niệm với một lòng kiền thành, niệm mà không loạn tưởng, niệm đến trình độ niệm Phật tam muội thì gió thổi chẳng lọt, mưa rơi chẳng thấu, mọi nguyện vọng sẽ được mãn túc. Khi niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, ta phải hết lòng cung kính, phải chú tâm không có vọng tưởng, nhất định sẽ có cảm ứng. Bất kể chúng ta có vọng tưởng gì, Ngài Quán Thế Âm cũng biết. Chúng sanh có các loại tâm nào, Quán Thế Âm Bồ Tát đều biết hết, đều thấy hết. Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát với lòng chí thành hết mực ắt có cảm ứng. Không thành tâm sẽ không có cảm ứng. Những người ở Vạn Phật Thành, ai nấy đều phải thanh tịnh thân tâm, không cho sanh khởi tâm vô minh, tâm phiền não, không được tức giận, lúc nào cũng phải giữ một thái độ hòa nhã, hướng tới lòng từ bi, không đối xử thô lỗ với bất cứ ai, không xen vào bất cứ một chuyện gì. Giữ được như vậy mới là thực lòng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát và thực lòng thờ lạy Ngài. Những ai đến Vạn Phật Thành, lạy Phật, không thể sanh tâm phiền não. Nếu có phiền não thì chẳng những cầu chẳng được phước, mà còn thêm khổ não. Dầu trong bất cứ trạng huống nào, cũng phải tập nhẫn nhục ba-la-mật. Vạn Phật Thành là đạo tràng để tẩy rửa thân tâm. Khi có phiền não, đến Vạn Phật Thành thì thân tâm liền được thanh tịnh. Tại sao vậy? Bởi vì được Ngài Quán Âm gia hộ, khiến cho mọi phiền não của chúng ta đều nhất loạt tan biến. Ai đến Vạn Phật Thành phải học tập theo tinh thần từ bi hỷ xả của Quán Thế Âm Bồ Tát, phải trang bị tư tưởng xả kỷ lợi nhân, cho lòng rộng mở, bao dung mọi sự dù bất như ý. Có duyên mới gặp gỡ nhau, hà tất cãi vã với nhau, chẳng có gì là hay ho cả! Ai như vậy thì cố mà sửa đổi, ai không thì hãy cố gắng! Vạn Phật Thánh Thành là nơi tẩy rửa tập khí của chúng sanh. Đến đây rồi, vị nào hút thuốc sẽ không hút thuốc, ai uống rượu sẽ không uống rượu, ai đánh bạc sẽ không đánh bạc, ma túy cũng không, các đồ độc hại đều nhất loạt bỏ lại. Chẳng phải chỉ tại Vạn Phật Thành mới có được như vậy, mà đi tới đâu cũng sẽ giữ giới, cái đó là do tới Vạn Phật Thành, thân tâm được tẩy rửa tinh khiết, thân được khang kiện, tâm được khang kiện, con người hoàn toàn đổi mới. Khi các tập khí phiền não tiêu trừ , lúc đó mới thực là niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, mới thực không uổng tâm nguyện nhập thất Quán Âm. Mọi người đều không sanh phiền não, là có được vật báu. Có câu nói như sau : Chẳng sanh phiền não, chẳng tâm nghi, Chỉ lo việc ta chẳng việc người, Nhẫn điều không phải, bớt tranh cãi, An nhiên thanh tịnh trí huệ sanh, Minh tâm chuyện khó không trở ngại, Kiến tánh còn đâu gặp ưu sầu, Ưu tư oán hận tâm mờ tối, Phật quang chẳng phải chẳng chiếu khắp. Nếu theo được như mấy câu trên, nhất định sẽ đặc biệt có cảm ứng. -------------------------------------------------------------------------------- 10. Càng Niệm Quán Âm Càng Bớt Vọng Tưởng [^] Niệm thánh hiệu của ngài Quán Thế Âm Bồ Tát có tác dụng tẩy rửa rác rưởi trong tâm của chúng ta. Niệm một câu là bớt đi một vọng tưởng, niệm hai câu sẽ bớt đi hai vọng tưởng. Niệm tới vạn lần Quán Thế Âm Bồ Tát tức là cả vạn vọng tưởng được tẩy rửa. Có người bảo: "Pháp sư nói không đúng rồi! Đệ tử vừa niệm Quán Thế Âm Bồ Tát lại vừa thấy có vọng tưởng, số vọng tưởng nổi lên còn nhiều hơn số niệm thánh hiệu nữa." Nói như vậy thì quả là bản lãnh quá cao cường, không thể nghĩ bàn! Một đàng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, một đàng nổi lên vọng tưởng! Kỳ thực người nào nói đó chẳng hề niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, đây chỉ là trạng thái tâm bất tại, nhìn mà chẳng thấy, lắng mà chẳng nghe. Tuy rằng anh ta có theo mọi người niệm Quán Âm, nhưng chính anh chẳng hề chú ý tới Ngài. Bởi anh ta không chú ý tới Ngài nên vọng tưởng của anh mới sanh ra. Vọng tưởng đến rồi, thì miệng niệm mà tâm thì tạp loạn. Trong lúc có vọng tưởng, miệng cũng quên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Quên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, vọng niệm lại nổi lên. Cái đó chính là thiếu nghiêm túc, không thực lòng. Anh ta đến đây, chẳng phải là để niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, mà chỉ là a-dua theo mọi người, do đó, niệm không đúng cách, thanh âm không mạnh mẽ, khí lực không đầy đủ. Trong lúc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, mắt nhìn Quán Thế Âm Bồ-tát, tâm tưởng hướng về Quán Thế Âm Bồ Tát, nhận ra Quán Thế Âm Bồ Tát trước mắt mình, ngàn mắt chiếu soi mình, ngàn tay nâng đỡ mình. Âm thanh do chính mình niệm cũng do tai của mình nghe một cách rõ ràng. Rồi thanh âm do chúng ta niệm bèn rót thẳng vào tâm, ta lại đón nhận âm thanh đó như đón nhận chính Bồ-tát tới ngự trị trong tâm của ta. Trong tâm đã có Quán Thế Âm Bồ Tát rồi thì còn đâu vọng tưởng nữa. Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát chính là liều thuốc mầu nhiệm để trị bệnh vọng tưởng, cho tới khi tâm được thanh tịnh thì lúc đó có sự tự tại. --- o0o --- | Mục Lục | | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | --- o0o --- | Thư Mục Tác Giả | --- o0o --- Vi tính : Diệu Nga - Samuel -------------------------------------------------------------------------------- Webmaster:quangduc@quangduc.com Trở về Trang Phật Học Cơ Bản Đầu trang Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ: quangduc@quangduc.com Cập nhật ngày: 01-02-2002

http://tusachphathoc.com/

PHÁP ÂM ĐẠO PHẬT NGÀY NAY Home | Đại Tạng Kinh | Kinh Luật Luận | Nghi Thức | Pháp Thoại Chủ Đề | Sách | Truyện | Hình Ảnh | Nhạc | Thông Báo | Kết Nối | Hướng Dẫn ĐẠI TẠNG KINH VÀ PHÁP THOẠI CỦA THẦY NHẬT TỪ LỜI NGỎ Kính bạch chư tôn đức Tăng Ni Kính thưa toàn thể quý pháp hữu . . . Cho đến hiện nay, chương trình âm thanh hoá Đại Tạng Kinh Việt Nam, trên căn bản, năm bộ Kinh quan trọng từ văn hệ Pali là Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ương Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh và Tiểu Bộ Kinh đã hoàn tất và tặng biếu nhiều nơi, trong và ngoài nước. Các bộ Kinh Đại thừa như Kinh Đại Bát Niết-bàn, Pháp Hoa, Đại Bát-nhã đã hoàn tất. Riêng Kinh Đại Bửu Tích cũng đã hoàn tất. Các bộ kinh Đại thừa khác và bốn bộ kinh A-hàm sẽ lần lượt được thực hiện trong tương lai. . . (xem tiếp) BAN THỰC HIỆN ĐẠI TẠNG KINH MP3 • Chủ nhiệm: Thích Nhật Từ • Trợ lý chủ nhiệm: Thích Tâm Bửu, Thích Phước Huệ • Kỷ thuật âm thanh: Thích Trọng Đức • Các uỷ viên: Thích An Khang, Thích Nữ Diệu Huệ, Diệu Thiện, Diệu Mỹ, Hoa Tâm, Hải Hạnh - Giác Định. THÔNG BÁO CỦA ĐẠO PHẬT NGÀY NAY Tâm thư kêu gọi dịch pháp thoại ra tiếng Anh Tâm thư kêu gọi đánh máy các bài giảng Danh sách pháp thoại cần đánh năm 2007 Các tác phẩm và bài viết của thầy Nhật Từ KINH ĐẠI THỪA MỚI ĐỌC >> Kinh sách khác • Lời giới thiệu của Ban thực hiện • Kinh Duy-ma-cật. Dịch giả: HT. Thích Huệ Hưng. Kinh Niệm Phật Ba-la-mật 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 Dịch Giả: Thích Thiền Tâm. Giọng đọc: Nguyễn Vinh và Kim Phượng • Kinh Hiền Nhân Dịch Giả: HT. Thích Hành Trụ. Giọng đọc: Đức Uy • Sự Tích Quan Âm Diệu Thiện Dịch Giả: Thiền sư Nhất Hạnh; Giọng đọc: Kim Phượng • Kinh Viên Giác Dịch Giả: Thích Trung Quán. Giọng đọc: Nguyễn Vinh • Đại Phương Tiện Phật Báo Ân 1 | 2 | 3 | 4 | 5a - 5b -5c | 6a - 6b | 7 | 8 | 9 Dịch giả: Thích Chính Tiến. Giọng đọc: Nguyễn Vinh, Kim Phượng, Trang Mỹ Lai, Đức Uy, Thanh Thuyết. << Đón đọc các kinh Đại thừa khác trong vài ngày tới >> SÁCH TRUYỆN MỚI ĐỌC >> Kinh sách khác • Tuổi già tươi trẻ (chùa Liên Hoa, 25-2-06) • Chuyển nghiệp con chó (Chùa Diệu Tâm, 26-2-06) • Chăm sóc bệnh nhân (Chùa Phổ Quang, 26-2-06, kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam) • Chuyển hoá để sống an vui qua tục ngữ con chó (Trung tâm Bảo trợ Xã hội Bà Rịa Vũng Tàu, 4-3-06) • Đẹp và nết (Chùa Giác Ngộ, nhân ngày 8-3-06) LỊCH GIẢNG CỦA THẦY NHẬT TỪ • 16h30, chủ Nhật hằng tuần: Kinh Trung Bộ và Cuộc Sống. Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Q.3, TP.HCM. • 18h45, ngày 14 và cuối tháng ÂL: Chùa Giác Ngộ, 92 Nguyễn Chí Thanh, Q.10, TP.HCM. • 15h00, chủ Nhật tuần lễ thứ 3 của tháng DL: Chùa Ấn Quang, 423 Sư Vạn Hạnh, Q.10, TP.HCM. TRƯỜNG CA KINH A DI ĐÀ >> Các bài còn lại Võ Tá Hân phổ nhạc. Thầy Nhật Từ dịch. Quang Đạt phối khí. Thích Phước Huệ thực hiện. 1. Nguyện Hương Thanh Thúy 2. Đảnh Lễ Tam Bảo Tấn Đạt 3. Tán Hương Mai Hậu 4. Phát Nguyện Trì Kinh Xuân Phú 5. Tán Dương Giáo Pháp Thuỳ Dương 6. Kinh A-di-đà Nhóm Cadillac & Hoa Giấy TRƯỜNG CA KINH PHỔ MÔN >> Các bài còn lại Võ Tá Hân phổ nhạc. Thầy Nhật Từ dịch. Quang Đạt phối khí. Thích Tâm Bửu thực hiện. 1. Nguyện Hương Vân Khánh 2. Đảnh Lễ Tam Bảo Tấn Đạt 3. Tán Hương Mai Hậu 4. Phát Nguyện Trì Kinh Xuân Phú 5. Tán Dương Giáo Pháp Thuỳ Dương 6. Kinh Phổ Môn Nhóm Huỳnh Lợi & Hoa Giấy 7. Thi kệ trùng tuyên Nhóm Huỳnh Lợi & Hoa Giấy 8. Kệ tán Quan Âm Nhóm Huỳnh Lợi & Hoa Giấy HÌNH ẢNH >>Các hình ảnh khác Tuyển tập hình ảnh Phật giáo của đại đức Thích Minh Phú. www.hinhdongphatgiao.bravehost.com BÀI GIẢNG THÁNG 12-2007 • Vượt qua khổ đau (Chùa Xá Lợi, 2-12-07) • Logic 14: Các tình huống suy luận (HVPGVN tại TP.HCM, 5-12-07) • Logic 15: Các suy luận sai (HVPGVN tại TP.HCM, 8-12-07) • Tái sinh và chuyển nghiệp | phần 2 (Chùa Phước Linh, Bà Rịa Vũng Tàu, 8-12-07) • Tái sinh và hồi hướng (Chùa Giác Ngộ, 9-12-07) BÀI GIẢNG THÁNG 9-2007 • Giúp người và cứu mình (Chùa Đức Quang, 8-9-2007) • Thầy tâm linh (Kỷ niệm lần 23 ngày viên tịch HT. Thích Thiện Tường, chùa Giác Nguyên, 28-9-2007) • Truyền thống cũ và mới - Kinh Makhadeva 83 (Chùa Xá Lợi, 11-11-07) DANH MỤC PHÁP THOẠI CỦA THẦY NHẬT TỪ Tủ Sách Phật Học trân trọng giới thiệu hàng trăm bài pháp thoại, bài giảng, băng giảng và vấn đáp về Phật pháp và đạo Phật do thầy Nhật Từ (Thich Nhat Tu) giảng trong và ngoài nước. Để nghe các bài giảng, quý vị chỉ cần bấm vào các danh mục pháp thoại, sau đó, chọn bài giảng thích hợp. • Pháp thoại của thầy Nhật Từ tại Hoa Kỳ, Hạ 2007 • Pháp thoại của thầy Nhật Từ năm 2007 • Pháp thoại của thầy Nhật Từ năm 2006. • Pháp thoại của thầy Nhật Từ tại Úc châu 2006. • Pháp thoại của thầy Nhật Từ năm 2005. • Pháp thoại của thầy Nhật Từ tại Hoa Kỳ 2005. • Pháp thoại của thầy Nhật Từ năm 2004. • Pháp thoại của thầy Nhật Từ phân theo mẫu tự ABC. • Pháp thoại của thầy Nhật Từ phân theo chủ đề. PHÁP THOẠI VỀ KINH ĐIỂN • Đạo Phật và cuộc sống (hơn 100 bài giảng về Kinh Trung Bộ). • Thế giới Cực Lạc (7 bài giảng về Kinh A-di-đà, 2005). • Dược chất tâm linh (8 bài giảng về Kinh Dược Sư, 2005). • Dộng tan cửa ngục (14 bài giảng giải Kinh Địa Tạng, 2006). • Siêu độ vong linh (6 bài giảng về Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, 2006) • Đối thoại triết học giữa nhà vua và nhà sư (8 bài giảng về Kinh Na-tiên Tỳ-kheo, 2006) • Các nguyên tắc sư phạm Phật giáo (10 bài giảng tại Khoá Cao cấp Giảng Sư, tháng 3-4/06) • Các pháp thoại tại trại tù, trại cai nghiện, trung tâm Bảo trợ XH • Pháp thoại về mười hai con giáp • Logic học Phật giáo (HVPGVN tại TP.HCM, 2007) ĐẠO PHẬT VÀ CUỘC SỐNG >> Các bài còn lại Giảng Kinh Trung Bộ tại chùa Xá Lợi, 16h30, chủ Nhật hằng tuần • 65. Thuật sống hạnh phúc | phần 2 (Kinh Kandaraka 51, 12-11-06) << Hãy bấm vào đây để nghe các bài pháp còn lại >> ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN Giảng tại trường Cao Đẳng Phật học Tp.HCM, khoá IV 2005 • Mục Đích Tạo Luận Và Đối Tượng Cần Luận A | B • Bản Chất Của Chân Như A | B • Loại Hình Và Cấp Độ Giác Ngộ A | B NHẠC NIỆM PHẬT Nhạc niệm Phật do Thích Nhật Từ biên tập và nhạc sĩ Giác An phổ • Thánh hiệu đức Phật Thích-ca • Thánh hiệu đức Phật A-di-đà • Thánh hiệu đức Quán Thế Âm NIỆM PHẬT • Nam-mô A-di-đà Phật (nhanh) (TT. Thích Tâm Phương) • Nam-mô A-di-đà Phật (chậm) (TT. Thích Tâm Phương) • Nam-mô Quán Thế Âm (TT. Thích Tâm Phương) • Trì ngũ bộ chú (TT. Thích Tâm Phương) • Niệm Phật tiếp dẫn (ĐĐ. Thích Nguyên Tạng) XUÂN AN VUI >> Các bài còn lại Thầy Nhật Từ biên tập. T. Phước Huệ thực hiện • Tâm Xuân: Lời Thích Nhật Từ; Nhạc Chúc Linh; ca sĩ Lan Ngọc. • Đêm xuân nguyện cầu: Quỳnh Giang • Xuân không tính: Ngọc Sơn DÂNG MẸ >> Các bài còn lại Thơ Thích Thiện Hữu. Thầy Nhật Từ biên tập và nhạc sĩ Nguyễn Nhật Tân phổ; Thích Phước Huệ thực hiện. • Giới thiệu: Phương Thanh • Dâng Mẹ: Phương Thanh CỔ NHẠC ĐẠO PHẬT NGÀY NAY • Mênh Mông Trời Biển (9 bài cổ nhạc ca ngợi tình cha nghĩa mẹ) Thầy Nhật Từ chủ nhiệm thực hiện • Nương Ánh Từ Quang (9 bài cổ nhạc về con đường nương tựa tâm linh) Thầy Nhật Từ chủ nhiệm thực hiện. -------------------------------------------------------------------------------- -------------------------------------------------------------------------------- You are visitor number since May 20, 2005 http://www.tusachphathoc.comOther websites (Trang Web khác) -------------------------------------------------------------------------------- © Buddhism Today | Hướng dẫn download | Quy định tác quyền | Chào mừng | Cúng dường Các địa chỉ thỉnh miễn phí các bài giảng (pháp âm hay pháp thoại) về Phật giáo của pháp sư Thích Nhật Từ Việt Nam: Thich Nhat Tu, Chùa Giác Ngộ, 92 Nguyễn Chí Thanh, P.3, Q.10, TP.HCM. Tel: (0084-8)-908153160. HOA KỲ: Đạo tràng An Hạnh, 4941 Eberly Dr., San Jose, CA. 95111, USA. Tel: (408)-281-2047. Cell: (408)-326-9758. Đạo tràng Diệu Hiền: 1952 Waverly Ave, San Jose, CA 95122. Tel: 408-347-0875. Email: nhut_n@sbcglobal.net Đạo tràng Linh Chi - Nguyễn Long, 1537 W. Saint Andrew Place, CA92704. Tel: (714)-434-7445 Đạo tràng Quang Minh - Chúc Diễm: Tel: 510-531-6627. Email: adidalac@yahoo.com Đạo tràng Quảng Bình: (cell) 773-412-3353. Email: chucluong_huethanh@yahoo.com Đạo tràng Chánh Tâm Thanh, 7136 Badenoch CT, Charlotte, NC 28217. Tel: (704)-523-2666 Đạo tràng Tâm Đức: 18 Catherine Rd, Framingham, MA01701. Tel: (978)-979-4216 Đạo tràng Diệu Anh: 3 Douglas Rd, Lansdale, PA 19446. Tel: 215-692-4640 (Cell). Email: dieuanh01@comcast.net Đạo tràng Minh Thanh - Diệu Ngộ: 449 Church Rd, Lansdale, PA 19446. Tel: 215-362-8257 (Cell) ÚC CHÂU: Đạo tràng Giác Định, 5 Jeanes St, Beverley SA. 5009, Australia. Tel: (041)-780-4357 Ananda Nguyễn, 7/44 North St, AS Cotvale, 3032, Victoria, Australia. Tel: 93709928 (Home); 043-988-7737 (Mobile) Email: buddhismtodayinc@yahoo.com | Website: http://www.tusachphathoc.com và http://www.buddhismtoday.com

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2007

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2007

hihihi

click to comment
tam an van su deu an