Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2008

Master Hsuan Hua

 
 
 
 
Làm người hay làm việc, mình phải giữ lòng tinh tấn. Tinh nghĩa là không tạp. Tấn nghĩa là không thối lui. Tinh thì chuyên tâm nhất niệm. Làm việc gì cũng cần chuyên tâm thì mới thành. Không có hai niệm tạp nhạp thì mới tiến bộ.
Posted by Picasa

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2008

A DI ĐÀ PHẬT ! CỨU KHỔ VÔ LƯỢNG: Nguyên Bảo

A DI ĐÀ PHẬT ! CỨU KHỔ VÔ LƯỢNG: Nguyên Bảo Làm người hay làm việc, mình phải giữ lòng tinh tấn. Tinh nghĩa là không tạp. Tấn nghĩa là không thối lui. Tinh thì chuyên tâm nhất niệm. Làm việc gì cũng cần chuyên tâm thì mới thành. Không có hai niệm tạp nhạp thì mới tiến bộ.

sao mình bị gạt

Làm người hay làm việc, mình phải giữ lòng tinh tấn. Tinh nghĩa là không tạp. Tấn nghĩa là không thối lui. Tinh thì chuyên tâm nhất niệm. Làm việc gì cũng cần chuyên tâm thì mới thành. Không có hai niệm tạp nhạp thì mới tiến bộ. Kinh Dịch dạy rằng: Khi người quân tử nhìn thấy cảnh tượng này, chàng ta liền phải gấp lo thu xếp công việc, đặt định mọi chuyện để phòng bị mưa rơi, do đó kinh nói người quân tử sắp đặt, sửa sang, trước khi tai họa hoặc sự việc xảy ra. Sau đây là một câu chuyện lịch sử nói về quẻ Truân: Ðời nhà Ðường, có vị lãnh chúa tên Châu Ôn (852-912 AD) ôm ấp ý đồ muốn làm hoàng đế nên đã công nhiên chống lại chính quyền địa phương đương thời là quan tri phủ Lý Khắc Dụng (856-924 AD) và thách thức cả vua Ðường Chiêu Tông (đương triều 889-903 AD). Thời ấy, dân cư trong vùng lân cận chịu đủ thứ gian nan, nhiễu nhương vì chinh chiến, đúng là thời đại của quẻ Truân. Bây giờ có một ngôi chùa nọ đang được trùng tu. Ngài Phương trượng đốc thúc việc xây cất đột nhiên bắt các nhân công phải bí mật xây hai tường hai vách, mà giữa vách thì chất đầy lương khô. Ngài lại cố ý cho xây thật nhiều trụ để chống đở trần nhà. Vì những trụ này không mấy cần thiết, nên các vị tăng khác thấy ngài làm vậy thì chế diễu, cho rằng ngài già rồi nên lẩm cẩm, thiếu minh mẫn. Mấy tháng sau, khi chùa xây xong thì nội chiến cũng bùng phát. Lính tráng và giặc giã nổi lên khắp nơi. Thương buôn phải đình trệ. Nông gia chẳng thể tiếp tục chăm sóc ruộng vườn yên ổn được. Thành phố, thôn quê, đâu đâu cũng bị cướp bóc và đốt cháy. Dân chúng khổ sở, mất mạng nhiều vô số. Ðến khi mùa đông rét buốt tới thì củi quý như vàng, gạo đắt như ngọc. Không ai muốn bán thóc lúa, cây trái, vốn là những thứ khó kiếm vô cùng lúc bấy giờ. Kẻ giàu, phú ông, bởi vì ham tiếc không chịu đổi chác ngọc ngà, tài sản nên rốt cuộc nhiều kẻ phải chết đói. Bấy giờ, trong lúc hỗn loạn ấy, vị phương trượng truyền dạy chư tăng từ từ chẻ mấy cái trụ dư thừa kia xuống làm củi, rồi lấy bớt lương khô ra mà ăn lần lần. Tất cả chúng tăng nhờ đó mà không chết đói, chết rét. Ai cũng tán thán trí huệ thực tế, nhìn xa thấy rộng của ngài phương trượng. Ðấy chính là do ngài thấy được thế sự đang ở trong thời quẻ Truân, và ngài biết áp dụng câu: Người quân tử sắp đặt, sửa sang. Nếu hiểu quẻ Truân trên phương diện tâm linh thì: Mây đen tụ lại, giăng bủa: tượng trưng cho vọng tưởng, thành kiến, chấp trước tích tập đầy dẫy. Sấm sét chớp nhoáng: tượng trưng cho cảm giác, phiền não, tức giận, âu lo, v.v.. Khi vọng tưởng và phiền não quá nhiều thì trước sau cũng sẽ dẫn tới hành động ngu muội, không hợp lý, không hợp giới luật; hệt như khi có mây đen, sấm sét thì trước sau trời cũng sẽ mưa. Kinh Dịch dạy: người quân tử sắp đặt, sửa sang tức là dạy người tu hành khi thấy và nhận biết được vọng tưởng, chấp trước và phiền não của mình thì phải mau mau phản tỉnh, sửa đổi chính mình. Sắp đặt, tức là phải suy nghĩ cho đúng với giới luật, với lý nhân quả. Sửa sang là sửa đổi thái độ, thói quen và quan niệm. Sửa sang có mấy thứ bậc: 1. Ở bậc thấp nhất: Một khi mây đã giăng, sét đã dậy, thì ta phải giữ gìn giới luật đối với lời ăn tiếng nói, kiểm soát hành động đừng để tổn hại kẻ khác. Nho giáo dạy: Phát, nhi giai trung tiết, vị chi hòa (tâm tình bộc phát nhưng giữa cho thăng bằng, trong vòng lễ độ thì gọi là hòa), hay là giữ tâm bình khí hòa. 2. Ở bậc cao hơn một chút: Quán sát nhân quả dòng vọng tưởng để phá trừ thành kiến và chấp trước; quán sát thực chất của mối phiền não để chấm dứt nó. 3. Ở bậc cao hơn nữa: Ðừng để mây đen kéo tới, đừng để sấm sét nổi lên. Nho giáo dạy: Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát, vị chi trung (Khi vui, giận, buồn, sướng chưa phát ra thì gọi là trung). Phật dạy: Ðừng khởi tà kiến, chớ trụ tâm chấp trước, đừng sinh phiền não. Tu lòng từ bi hỉ xả. Một câu chuyện nói về quẻ Truân như sau: Có hai vợ chồng làm nghề buôn bán đã nhiều năm. Họ thường thường cứ bị những con buôn khác lường gạt hoài. Bực dọc, hai người mới lên than phiền với một vị thiền sư; họ nghĩ rằng họ đã phải làm gì bậy trong kiếp trước nên mới bị lường gạt trong kiếp này. Vị sư cười, hỏi rằng: Hãy khoan đổ thừa cho kiếp trước! Các con có bao giờ gạt ai chưa? Ngần ngừ một hồi, hai người mới nói: Dạ có, nhưng tụi con đã ngừng. Lâu lắm rồi, tụi con chẳng gạt gẫm ai. Sư hỏi tiếp: Thế con vẫn còn tính toán, tranh hơn, giành thắng? Họ đáp: Dạ, đương nhiên tụi con phải tính toán, mình phải tính lời chớ, thưa thầy. Sư hỏi: Thế con vẫn còn nói dối, nói lợi, nói đẹp cho mình? Họ đáp: Mình không tự quảng cáo thì ai mua hàng mình bán? Sư hỏi: Thế con có nói xấu, chê bai người buôn khác, chê bai hàng hóa họ bán? Họ đáp: Tụi con không nói toạc ra (rằng kẻ khác xấu) thì khách hàng cứ chạy đi mua chỗ khác, không mua hàng tụi con. Sư kết luận: Khi tâm các con tranh chấp, gạt gẫm, chê bai, giành giựt thì con sẽ chiêu cảm quả báo là những thứ lường gạt, đấu tranh. Việc làm của con tuy nói là buôn bán, thực sự chẳng khác gì chuyện đánh giặc. Làm sao con có thể yên vui, hòa bình, không bị lường gạt được. Câu chuyện trên đây cho thấy một khi trong tâm đã nuôi dưỡng quan niệm sai lầm, thành kiến, chấp trước, tranh chấp nội tại, thì quả báo đau khổ thật khó tránh. Ðức Phật tóm gọn quá trình khổ đau này trong ba giai đoạn: Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ quả báo. Khởi hoặc tức là dấy khởi tà kiến, phiền não. Tạo nghiệp tức là có hành động và lời nói sai lầm. Thọ quả báo tức là chịu đau khổ, không được như ý mình. _________________ Nhẫn một tí, gió im sóng bặt, Lùi một bước, biển lặng trời trong. Photobucket

Hòa thượng Quảng Khâm

PDF In E-mail [Hòa Thượng Quảng Khâm] Hòa Thượng Quảng Khâm Hòa-Thượng Quảng-Khâm sinh vào đời nhà Thanh, năm Quang-Tự thứ 18 (1892). Ngài họ Hoàng, tên tục là Văn-Lai, quê ở Phúc-kiến, Trung-Hoa. Gia đình Ngài rất nghèo, đến độ anh ruột Ngài không có đủ tiền để cưới vợ. Năm Ngài bốn tuổi, vì không đủ sức nuôi dưỡng Ngài, cha mẹ Ngài phải đem Ngài bán làm con nuôi cho gia đình họ Lý ở Tấn-giang. Hai ông bà họ Lý là người rất tốt, cả đời sống bằng nghề trồng trọt. Họ thương yêu Ngài như con ruột vậy. Bà Lý là người tin Phật sâu xa, suốt đời trường trai. Bà thường đem Ngài lên chùa cầu nguyện bởi từ nhỏ Ngài thường bệnh hoạn, thân thể yếu ớt. Năm Ngài chín tuổi, bà Lý qua đời; hai năm sau dưỡng phụ Ngài cũng nối gót từ trần, khiến Ngài bỗng chốc trở thành cô nhi. Bấy giờ, bà con họ hàng ai nấy đều tranh dòm, chờ chực để chiếm đất đai ruộng vườn, tài sản của gia đình họ Lý để lại. Ðiều ấy khiến Ngài, một trẻ thơ, cảm nhận sâu xa mùi vị chua chát của thói đời và tánh vô thường của mọi sự. Trong đầu Ngài nảy sinh ý niệm thoát trần: Ngài đem hết của cải đất đai nhường lại cho bà con, rồi một mình tìm tới Chùa Thừa-Thiên ở Phúc-châu xin xuất gia. Bấy giờ, phương trượng Chùa Thừa-Thiên là Hòa-Thượng Chuyển-Trần, dạy Ngài quy-y, tu Khổ-hạnh với Thầy Thụy-Phương. Ngài được phân phối cho việc lao tác, trồng rau, nhổ cỏ....; đây là những việc công quả tập sự dành cho người muốn xuất gia. Ðến năm 19 tuổi, do nhiều nhân duyên đặc biệt, Ngài đã qua Nam-Dương. Ở đây, vì không có trình độ học vấn nên Ngài phải làm việc lao động chân tay. Một hôm, nhân cùng đồng bạn lên núi đốn củi, Ngài nói với bạn về trực giác linh cảm của mình rằng chiếc xe vận tải chở củi sẽ lật ở dốc núi, nhưng không ai tin. Không lâu, chiếc xe quả nhiên bị lật thật. Ðiều này khiến bạn Ngài ngạc nhiên, bảo rằng: "Có được trực giác như vậy sao anh không chịu tu hành, phát triển tâm linh, sau này độ thế?" Nghe qua, Ngài như chợt tỉnh, liền đáp thuyền về lại Trung-Hoa. Bấy giờ Ngài đã 35 tuổi, sau gần 16 năm sống ở Nam-Dương. Về lại Chùa Thừa-Thiên, Ngài chính thức xuống tóc, lạy Hòa-Thượng Thụy-Phương làm Thầỵ Pháp-danh của Ngài là Chiếu-Kính, tự Quảng-Khâm. Sau khi xuất gia, Ngài chuyên chú tu Khổ-hạnh, ăn những thức không ai thèm ăn, làm những việc không ai chịu làm, thường luôn ngồi Thiền, một lòng niệm Phật. Có một thời gian Ngài giữ trách nhiệm Hương-đăng (thắp nhang, quét tước điện Phật) và đánh bảng thức chúng mỗi sáng. Nhiều lần Ngài ngủ say quá nên trễ nãi việc đánh bảng. Ðiều này khiến Ngài vô cùng hổ thẹn, sám hối sâu xa trong lòng, rồi từ đó lập chí ngủ ngồi. Năm 1933, sau sáu năm làm Sa-di tu Khổ-hạnh, bấy giờ Ngài mới đi cầu thọ giới Tỳ-khưu nơi Hoà-Thượng Diệu-Nghĩa, Chùa từ-Thọ, Phủ-điền. Thọ Giới rồi, Ngài liền xin phép Phương-Trượng Chuyển-Trần đi ẩn tu; lúc ấy Ngài vừa đúng 42 tuổi. Bấy giờ, một thân một mình, với ít áo quần và hơn 10 ký gạo. Ngài nhắm núi Thanh-lương, tỉnh Tuyền-châu, tiến bước. Nơi ấy, ở giữa sườn núi, Ngài tìm thấy một thạch động đủ rộng để an thân tu Ðạo. Ðộng này vốn là nơi mãnh hổ thường lui tới; thế nhưng khi gặp hổ, Ngài chẳng hãi sợ. Ngài bảo cho chúng biết ý định muốn dùng động này để tu hành và khuyên chúng hãy tìm nơi khác. Lạ thay, hổ như hiểu ý Ngài, rõ lời người. Ngài lại vì hổ mà thuyết Tam Quy-y; hổ nghe rồi vẫy đuôi đi mất. Không lâu sau, hổ ấy đem bầy hổ lại: nào hổ mẹ, hổ con... đùa giỡn, gần gũi với Ngài như gia súc vậy. Bởi thế, sau này người dân quanh đấy gọi Ngài là Phục Hổ Hòa-Thượng. Bấy giờ, Hòa-Thượng ở sơn động ngày ngày tọa Thiền, niệm Phật; chẳng bao lâu lương thực cạn sạch, Ngài bèn hái trái cây rừng để ăn. Trong núi, ngoài hổ còn có khỉ, vượn. Bọn ấy, lạ thay, thường hay đến động; chúng lại đem cả hoa quả cây trái lại cúng dường Ngài nữa! Hòa-Thượng thường hay nhập Ðịnh. Có lần Ngài nhập Ðịnh đến vài tháng, không ăn uống, không động đậy thân thể; thậm chí hơi thở dường như dứt tuyệt. Có người gần đấy thấy vậy thì lầm tưởng rằng Ngài đã viên tịch, nên tức tốc cấp báo với Hòa-Thượng Chuyển-Trần để lo việc hỏa táng. May thay, lúc ấy có vị cao-tăng là Ðại-Sư Hoằng-Nhất đang ở chùa gần đấy, nghe được tin trên bèn cùng Hòa-Thượng Chuyển-Trần lên núi xem hư thực. Tới nơi, Ðại-Sư Hoằng-Nhất biết Ngài đang nhập Ðịnh, liền gõ ba tiếng khánh, đánh thức Ngài dậy từ trạng thái Thiền-định. Tin Ngài nhập Ðịnh lan truyền khắp nơi khiến ai ai cũng tán thán. Tháng ngày qua như tên bắn, thấm thoát Hòa-Thượng đã ở trên núi Thanh-lương được 13 năm. Bấy giờ Ngài, đã 54 tuổi (1945), trở về Chùa Thừa-Thiên. Hai năm sau, 1947, Ngài rời Ðại-lục, đáp thuyền tới Ðài-loan. Ở đây, bắt đầu quãng đời hoằng Pháp của Ngài: - 1948, Ngài xây một ngôi chùa nhỏ ở Ðài-bắc, tên là Quảng-Minh Tự. - 1951, xây Quảng-Chiếu Tự. - 1952, Ngài tìm thấy một thạch động ở núi Thành-phước rất đặc biệt: khi mặt trời và mặt trăng mới mọc thì ánh sáng chiếu thẳng vào cửa động. Bởi thế, Ngài đặt tên là Nhật-Nguyệt Ðộng và quyết định ở đấy ẩn tu. Nơi ấy xưa nay vốn không có nước, song từ khi Ngài vào ở bỗng có một suối nước mát tự nhiên vọt lên kế bên. Trên đỉnh núi ấy, Ngài dựng một chòi tranh để ở. Một đêm nọ, có con trăn khổng lồ bò lại chòi tranh cầu Pháp; Ngài liền vì nó thuyết Pháp và truyền Tam Quy-y. - 1955, tín đồ ở Ðài-bắc cúng dường Ngài một cuộc đất do hỏa sơn tạo nên; Ngài bèn xây Thừa-Thiên Tự ở đó. - 1963, Ngài hưng kiến Tường-Ðức Tự; xây Quảng-Long Tự ở núi Long-tỉnh. Ðến năm 1964, Ngài đã ở Ðài-loan được 17 năm. Trong suốt thời gian ấy, Ngài đã nhập định ba lần và mỗi lần lâu hơn cả tháng. Hằng ngày, Ngài chỉ ăn một bữa và chỉ ăn trái cây; Ngài không ăn đồ nấu nướng hay chiên xào gì cả. Vì vậy, tín đồ gọi Ngài là Thủy-Quả Hòa-thượng - Ông Thầy Ăn Trái Cây - Trừ khi trời mưa, thường thì mỗi đêm Ngài đều ngồi tọa Thiền cho tới sáng ở ngoài vườn hay trong rừng, chứ không ngủ trong phòng như kẻ khác. Ðấy là những công hạnh đặc biệt của Ngài. Năm Ngài 80 tuổi, có lần Ngài biểu thị cho Ðại-chúng biết ý định "Xả Báo" - nhập Ðịnh - của Ngài. Lúc ấy các đệ tử vô cùng khẩn thiết, cầu xin Ngài tiếp tục từ bi trụ thế. Bấy giờ Ngài vì tùy thuận chúng sanh nên trì hoãn việc nhập Ðịnh, tiếp tục công cuộc độ sinh. Từ ấy Ngài đi Nam-đầu, Ðài-trung, Gia-nghĩa, Hoa-liên, v.v... hoằng Pháp độ chúng. Ðến năm 84 tuổi, Ngài bắt đầu cấm túc, ở luôn tại chùa Thừa-Thiên trên núi Thanh-lương không còn xuống núi nữa. Công cuộc xây chùa vẫn tiếp tục, song do các đại đệ tử của Ngài chủ động: trùng tu Chùa Thừa-Thiên, xây Quảng-Thừa Nham (1974), Diệu-Thông Tự (1982). Năm Ngài 94 tuổi (1985), Ngài chủ trì Tam Ðàn Ðại Giới, truyền giới cho hơn 2.500 vị Tăng, Ni và cư sĩ; tạo thành một Pháp-Hội trang nghiêm vĩ đại nhất ở Ðài-loan lúc bấy giờ. Bấy giờ tuy đã gần kề trăm tuổi, Ngài vẫn sống rất đơn giản, đạm bạc; lời nói của Ngài bình dị, khiêm nhường; bước đi của Ngài vẫn vững chãi, không cần dùng tới gậy chống, không nhờ người đỡ taỵ Nếu ai gặp Ngài lúc ấy sẽ thấy thân Ngài vô cùng nhẹ nhàng, linh hoạt; động tác thanh thoát. Ngài vẫn y nhiên ngủ ngồi, không nằm; và vẫn ngồi ngoài vườn lộ thiên tĩnh tọa mỗi đêm. Bấy giờ thức ăn trái cây của Ngài phải được nghiền thành chất lỏng để dễ ăn. Cuối năm 1985, Ngài trở về Chùa Thừa-Thiên. Ngài thị hiện có bệnh; cự tuyệt mọi thứ ẩm thực, thuốc men; cũng không tiếp kiến tín đồ. Ngày Tết Nguyên-đán năm ấy, 1986, Ngài triệu tập tất cả đệ tử ở các chùa và tu viện khắp nơi lại để phú chúc, phân phối hậu sự. Ngài chỉ bảo việc hỏa táng, phân chia linh cốt tại Thừa-Thiên Tự, Quảng-Thừa Nham, và Diệu-Thông Tự, đồng thời trả lời mọi nghi vấn của tín chúng. Sáng ấy, sau giờ thọ trai, Ngài quyết định xuống Diệu-Thông Tự ở Cao-hùng. Hôm sau, mồng hai Tết, khí lực của Ngài vô cùng suy nhược. Mồng ba Tết, thể lực của Ngài bình phục. Ngài cùng đại chúng lên điện niệm Phật. Ngài lại nói chuyện một cách thong dong tự tại với các tín đồ đệ tử; tinh thần vô cùng sáng suốt và lạc quan như không có chuyện gì xảy ra. Sáng mồng bốn Tết, Ngài gọi tất cả đệ tử cùng Ngài ra bên ngoài điện đón nắng. Ngài nói với một đệ tử, Thầy Truyền-Văn, rằng: "Ngươi được rồi đấy; song bọn họ - đại chúng - còn chưa xong đâu!" Mồng năm Tết (ngày 13 tháng 2 năm 1986), Ngài ngồi xếp bằng yên định, tinh thần hòa hoãn, chẳng chút xao động; rồi dạy các đệ tử đồng thanh niệm Phật. Vào hai giờ chiều hôm ấy, Ngài bảo đại-chúng: "Vô lai vô khứ, một hữu sự!" (chẳng đến chẳng đi, chẳng việc gì); rồi nhìn đại-chúng gật đầu, mỉm cười. Không lâu sau, đại chúng thấy Ngài ngồi yên bất động liền đến bên quan sát kỹ, mới hay Ngài đã an nhiên theo tiếng niệm Phật, viên tịch rồi. Nhìn lại cả đời Ngài, xuất thân tuy nghèo khổ song bản tánh tự an, ngay thật, bình dị; đến khi xuất gia, Ngài thật sự buông bỏ vạn sự, chân thành ẩn tu, thực hành đủ thứ khổ-hạnh gian khó. Bởi nhân địa chân thật như vậy, nên kết quả là cảm ứng bất khả tư nghị - sau khi xuống núi, tới Ðài-loan hoằng dương Phật Pháp, Ngài đã tiếp độ không biết bao nhiêu chúng sanh, từ người đến thú, từ dương giới đến âm giới, từ hữu tình đến vô tình... Và, nhất là sự viên-tịch vô cùng tự do tự tại của Ngài - một minh chứng hùng hồn nhất về sự diệu kỳ của Phật Pháp, cũng như về khả năng thành tựu sự giải thoát, đạt Ðạo của những bậc chân tu, thật hành. Thầm nguyện Hòa-Thượng sẽ không xả bỏ đại nguyện, tiếp tục chèo thuyền từ bi trở lại cõi này để không ngừng đưa lớp lớp chúng sanh tới bờ bên kia, đến nơi an ổn, vô úy, vô ưu não! Theo: Cẩm Nang Tu Đạo

Nguyên Bảo

Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket